Chuyện ‘tào lao’ giờ mới kể – Rất tào lao

Đề dẫn: Được mấy hôm giữa tháng năm (16-19/5) trời đổ đốn, mùa hè mà lạnh như đông. Chả có việc gì làm vì không chạy ra ngoài lăng xăng được nên ngồi chát-chít và chém gió. Nhân việc thầy Phan Hải nói tới ý niệm 1.0 vs. 2.0 thế là mình được thể ‘chém gió’ nhân việc đi mưa bị ướt sũng giày nhưng lại có quan sát thú vị về cách mọi người ‘dựa vào nhau mà sống’ thế là có câu chuyện tào lao 2.0. Hôm nay một ‘tay phây búc cờ’ đình đám mà mình rất ngưỡng mộ nói về ‘góc nhìn’, ‘điểm nhìn’, lens-ism, mình chia sẻ câu chuyện #1.

Tái post: Thầy Phan Hải có hỏi nhân vận trong câu chuyện ‘hắn’ là ám chỉ tới ai. Hắn chả là ai cả. Là hắn mà cũng chẳng phải là hắn. Hắn cũng chẳng phải tôi và tôi cũng không là hắn. Sắc sắc không không, chả biết thế nào mà lần.

#1 “Tuyết rơi mùa hè” ~ Tào lao

Một này giữa tháng năm 2017…

Bao nhiêu năm trước đây, cũng là tháng 5, hắn thấy oi bức lắm, thời tiết nóng nực, rơm rạ phơi đầy đường. Hắn cũng bực bội vì tiếng ve kêu râm ran không dừng giây phút nào, làm hắn inh tai nhức óc. Chưa kể bọn ve sầu cứ nhằm lúc hắn đi qua gốc cây tránh nắng thì chúng thi nhau ‘tè’ xối xả. Như bị mưa phun vào mặt, hắn bực! Hắn thầm nghĩ trong đầu: “rồi tao sẽ lấy nhựa đường hoặc nhựa cây bắt hết chúng mày, cắt cánh, búng vào đít chúng mày kêu ve ve cho bõ tức.”

Tháng năm, nắng! nắng cháy làm cho tóc của hắn vàng hung như nhuộm để có ngày hắn bị vẹo tai oan uổng vì ông bí thư đoàn trường tưởng hắn chơi trội, nhuộm tóc hung ra vẻ kiểu giang hồ. Thế mà hôm nay hắn phải mặc áo khoác bên trong, trùm áo mưa bên ngoài như một ngày mùa đông thực sự. Vừa mặc áo mưa hắn vừa nghĩ trong đầu: ‘chả nhẽ bọn nó hát tuyết rơi mùa hè là điềm báo của biến đổi khí hậu?’ Rồi hắn tự cười với mình: đúng là tào lao hết cỡ! Hắn cười với chính mình, với những suy nghĩ dớ dẩn của mình. Nhiều lúc hắn nghĩ, gì mà ‘tôi tư duy, tôi tồn tại’! Tào lao hết cỡ. Suy nghĩ đến và đi như cơn gió thoảng qua, có chi là vĩnh cửu! Tội “đếch” gì mà tranh luận với nhau những thứ vô bổ.

#2: Tào lao chuyện 2.0

Hôm nay hắn đèo mẹ xuống huyện, chả biết cụ làm gì. Trên đường về, hắn dừng lại mua ít đậu phụ chấm mắm tôm ở một quán cóc ven đường. Chị bán đậu phụ cũng tiện thể gửi luôn ít rau, ít đậu nhờ hắn và mẹ hắn đem về hộ cho một gia đình ở gần nhà. Vài hôm trước, chị ấy còn đèo mẹ hắn về tận nhà khi thấy cụ lóc cóc đi bộ trên đường. Hắn xâu chuỗi các câu chuyện và ngẫm nghĩ: “mọi người nhờ nhau, giúp đỡ nhau tự nguyện, dựa trên lòng tin, có khác gì mô hình của Uber, GrabTaxi, hay Airbnb…” Khác chứ! Mô hình làng xã là 1.0, bọn kia là 2.0, na ná nhau nhưng không phải là một.

Lại nói về bài thi chuẩn hoá (TOEFL, IELTS)

Trong một lớp học về tiếng Anh học thuật (academic English) cho sinh viên quốc tế đang theo học ở một trường đại học nằm giữa đại dương, thầy giáo giới thiệu một số kỹ thuật (strategies) về ghi chép (notetaking) để các bạn sinh viên làm quen và sử dụng trong quá trình nghe giảng các môn chuyên ngành. Sau khi trình bày xong, sinh viên thảo luận với nhau về những điểm mạnh, điểm yếu của mỗi kỹ thuật. Sau đó, một em nữ sinh từ xứ sở kim chi giơ tay phát biểu:

Kim Chi: Thưa thầy, em thấy những kỹ thuật ghi chép thầy giới thiệu thì có thể áp dụng trong việc nghe giảng các môn chuyên ngành, nhưng khi phải ghi chép làm bài thi TOEFL, em nghĩ hơi khó áp dụng, thầy có kỹ thuật nào hữu ích không?

Thầy giáo lắng nghe chăm chú, nhìn Kim Chi với vẻ vừa tò mò, vừa bối rối. Cả lớp yên lặng. Thầy giáo quay sang cầm cây bút (marker) và chậm giãi nói:

Tôi không nghĩ rằng tôi có thể trả lời câu hỏi của em, nhưng có một ý tôi muốn chia sẻ với em và các bạn trong lớp. Vừa nói, thầy vừa viết chữ TOEFL lên bảng: Mục đích của bài thi TOEFL hay IELTS là nhằm khảo sát xem người học có đủ năng lực tiếng Anh/sẵn sàng để có thể theo học các chương trình đại học hoặc sau đại học ở một quốc gia (nói tiếng Anh) hay không?  Nếu như em và các bạn có thể học tập tại đây thì tại sao còn băn khoăn về điểm số ấy?

Cả lớp cười vui vẻ. Thầy giáo đợi xem có ý kiến phản biện nào không nhưng không có bạn sinh viên nào trao đổi gì thêm. Có lẽ các bạn cũng hiểu thêm một chút về mục đích của bài thi mà không biết bao nhiêu người học khổ sở, vật vã, vui sướng, tự hào…đủ các cung bậc cảm xúc với nó. TOEFL hay IELTS là một công cụ được thiết kế để phục vụ cho những mục đích nhất định, nhưng bên cạnh nó vừa là ngành công nghiệp nhiều tiền, nó cũng là một công cụ bị hiểu sai và bị lạm dụng tràn lan.

Rất nhiều người, gồm cả những người trong & ngoài cuộc thường làm ngơ khi kết quả bài thi TOEFL/IELTS bị diễn giải sai hoặc bị sử dụng nhầm chỗ, một phần vì sự thiếu hiểu biết, một phần vì lợi ích đi kèm với nó quá lớn nên khó lòng cưỡng lại được. Nhưng điều đáng tiếc là nó được sử dụng để đưa ra những quyết định ảnh hưởng tới cuộc sống của nhiều người, những người chỉ sử dụng tiếng Anh vào những công việc cụ thể (dạy học, du lịch, làm việc…) mà không/chưa có ý định sử dụng tiếng Anh học thuật cho mục đích hàn lâm. Đành rằng là có học có hơn (học thuật), độ tin cậy của các bài thi ấy khá cao, và chắc hẳn đánh giá được năng lực tiếng Anh của người học, nhưng nó phục vụ tốt nhất cho mục đích đã đề ra: hoạt động học tập, nghiên cứu bằng tiếng Anh ở trình độ đại học & sau đại học. Nếu dùng những bài thi ấy làm chuẩn hoặc cóp nhặt một phần từ những bài thi ấy thì dễ dàng chúng ta bị sa đà vào sự bất công. Nó giống như câu nói mà thường được cho rằng của Albert Einstein:

“Nếu bạn đánh giá một con cá bằng khả năng leo cây, con cá đó sẽ dành cả cuộc đời còn lại để tin rằng nó là một đứa ngu đần”.

công cụ cần dùng đúng việc
công cụ cần dùng đúng việc

Một hệ luỵ khác là việc coi điểm số TOEFL/IELTS giống như một thước đo vĩnh viễn, điểm càng cao thì càng ‘hoành tráng’. Nhưng thực chất đó mới chỉ là điểm bắt đầu của một câu chuyện dài hơi. Tràn lan trên các mặt báo và mạng xã hội là những câu chuyện ‘người hùng’ đã có điểm số này, điểm số kia. Kèm theo đó là các chiêu trò tiếp thị luyện thi, dạy học. Bạn đọc có thể phản biện tại đây rằng “phải chăng ông này đang có mâu thuẫn về mặt lợi ích?”. Không, chẳng có mâu thuẫn nào cả, mà đơn thuần đây chỉ là những hiểu biết tối thiểu cần được chia sẻ. Giống như Hieu Nguyen đã từng chia sẻ trên trang FB cá nhân:

Chúng ta đang sống trong một thế giới thay đổi hết sức chóng mặt, một thế giới mà 10 công việc ‘hot’ nhất năm 2010 thậm chí còn không tồn tại năm 2004, một thế giới mà để cạnh tranh nơi biển lớn đòi hỏi sức sáng tạo và học hỏi không ngừng… vậy mà ở nhà vẫn cứ diễn ra cảnh học sinh miệt mài ban ngày ở lớp, buổi tối cuối tuần cầm sách vở đi học luyện thi. Để rồi lại thành những cỗ máy luyện thi rất điêu luyện, thầy dạy chiêu trò mẹo làm bài, học sinh luyện nhiều thì tất nhiên cũng sẽ giỏi chơi chiêu. Rồi khi SAT 2300, TOEFL 110, IELTS 8.0 thì người người, nhà nhà vỗ tay khen.

Thật ra không có gì sai cả nếu khen là khen cho những nỗ lực phấn đấu hết mình của học sinh. Nhưng chính vì không biết cách khen, thêm chiêu trò quảng cáo marketing không mang tính giáo dục mà đầy màu sắc thương mại, dẫn đến một cái nhìn, một quan điểm hạn hẹp, hơi lệch, chưa toàn diện, nếu không muốn nói là… nguy hiểm. Một cái nhìn mà tốc độ lây lan đến chóng mặt, thêm vào đó là lại đến từ tiếng nói của những ‘chuyên gia luyện thi, tư vấn du học,’ nên nhiều người xem đó như là ‘chân lý.’ Đọc tiếp…{https://www.facebook.com/hieuchimen/posts/10100593042295651}

Ở góc độ kỹ thuật, bài thi TOEFL/IELTS là một loại hình chuẩn hoá, có nghĩa là điểm số của người học B chính là vị trí xếp hạng của người đó so với những người khác A-Z chứ không phải số câu trả lời đúng người học có được từ bài thi. Thêm vào đó, kết quả bài thi có được phải trải qua một quá trình phân tích phức tạp nhằm loại bỏ những yếu tố ăn may hoặc yếu tố bất thường có được từ quá trình gian lận hoặc thủ thuật làm bài. Chính vì thế việc luyện thi quá mức hoặc tập trung quá nhiều vào các mẹo mực sẽ chẳng giúp người học nâng cao năng lực ngôn ngữ. Khi người học có năng lực ngôn ngữ thì đều có thể thể hiện được cho dù đó là công cụ đo nào chăng nữa. Việc luyện thi nhằm mục đích làm quen hình thức bài thi hoặc được sử dụng như một kỹ thuật dạy học giúp người học nâng cao năng lực ngôn ngữ vẫn có giá trị, nhưng nếu chỉ tìm mọi cách để nâng cao điểm số thì là một việc cần xem xét lại.

Ngành học Second Language Studies (SLS)

Có một thực tế là mỗi khi gặp ai đó trao đổi hỏi han, biết mình là sinh viên mọi người luôn buông câu hỏi xem học ngành gì. Ban đầu thì hồn nhiên nói là ngành Second Language Studies (SLS), thế là kiểu gì sau đó cũng nhận được một cái nhìn rất tò mò và đầy bối rối. Có người sẽ hỏi luôn: “Thế là cậu học nhiều ngôn ngữ khác nhau à?” -“Không hẳn! đơn giản là tìm hiểu xem người ta học một ngôn ngữ mới diễn ra như thế nào.” -“Thế làm thế nào để học tốt một ngoại ngữ?” – “Mình không biết….!” Vài lần như vậy, có người thì hỏi ngay vì họ tò mò, có người thì tỏ ra bối rối, rồi mình nói ngay là đại loại như ngôn ngữ học ứng dụng (applied linguistics) hoặc đôi khi là giảng dạy tiếng Anh (TESOL) hoặc đơn giản là giáo dục (education). Thế rồi ai cũng gật gù, nếu quan tâm hơn gì cùng trao đổi, nếu không thì chuyển chủ đề nói về những mối quan tâm khác. Vậy ngành học SLS tập trung vào nội dung gì? Đối tượng nghiên cứu là gì? Sao không gọi luôn là ngôn ngữ học ứng dụng cho thuận tiện? ‘Second’ có nghĩa là chỉ tập trung vào ngôn ngữ thứ hai thôi hay sao, còn ngôn ngữ thứ 3, thứ 4 và đa ngôn ngữ thì sao? Vài người ngoại đạo so sánh luôn rằng ‘second language’ khác ‘foreign language’ vì học tiếng Anh ở Mỹ thì gọi là ‘second language’ còn học ở Việt Nam thì gọi là ‘foreign language’…bla bla…

Về cơ bản thì mỗi nhận định đều đúng nhưng chưa đủ. Đa số mọi người vẫn quen với ngành ngôn ngữ học ứng dụng nhiều hơn là Second Language Studies nhưng cũng có cách hiểu chưa đúng về ‘applied linguistics’ nếu tiếp cận theo kiểu ‘ứng dụng những nghiên cứu từ ngôn ngữ học’. Vì thế mà các học giả/nhà nghiên cứu ngôn ngữ 2 (second language/L2) mới đổi tên ngành thành Second Language Studies, chủ yếu ở Mỹ bao gồm các đại học như Michigan, Hawai’i, Indiana, Maryland…và cũng là những trường mà ngành học này có xếp hạng khá cao (so với các ngành ngôn ngữ học ứng dụng, TESOL…)

Đại học Hawai’i (UH) là một đại học giống như các đại học vùng ở VN (Đại học Quốc Gia HN, TP HCM) và có các cơ sở, trường thành viên trực thuộc. UH at Manoa (UHM) là cơ sở lớn nhất và là đại học nghiên cứu, khác với các cơ sở khác và các trường cao đẳng cộng đồng thiên về đào tạo nghề và sinh viên đại học. Họ cũng đào tạo sinh viên đại học nhưng chủ yếu tập trung vào sau đại học và đào tạo theo hướng nghiên cứu hàn lâm hơn là chuyên sâu về thực hành. Trong Đại học Hawai’i cơ sở Manoa lại có các trường thành viên như trường Khoa học KHXH&NV, trường Y Dược, trường Kiến Trúc, Trường Luật, trường Kinh Tế, trường Sư Phạm…Và khoa Second Language Studies thuộc trường Ngôn ngữ, Ngôn ngữ học & Văn học (College of Languages, Linguistics, and Literature). Trong khoa SLS thì có 4-5 ngành hẹp khác nhau. Về cơ bản thì họ tập trung vào 5 câu hỏi lớn: [1] What’s language? [2] How languages are learned? [3] How languages are taught? [4] How languages are assessed? [5] How language are used? Từ 5 câu hỏi này họ chia làm các chuyên ngành hẹp (specializations):

* Critical Second Language Studies (CSLS)
* Language Assessment, Measurement, and Program Evaluation (LAMPE)
* Language and Social Interaction (LSI)
* Language Education (LE)
* Second Language Acquisition (SLA)

Học viên thạc sĩ sẽ phải học 4 môn chính, bao quát đủ các khía cạnh của SLS bao gồm:
[1] SLS 441 Language Concepts for Second Language Learning and Teaching (ANALYZE) (tổng quan về phonetics & phonology; syntax, pragmatics) chủ yếu giúp người học hiểu về How languages work.
[2] SLS 650 Second Language Acquisition (LEARN) tổng quan về những nghiên cứu liên quan tới đắc thụ ngôn ngữ.
[3] SLS 6o0 Introduction to applied linguistics/SLS: tổng quan về những lĩnh vực khác nhau của ngôn ngữ học ứng dụng, làm quen với các phương pháp nghiên cứu cho mỗi lĩnh vực khác nhau, hướng dẫn khai thác, đánh giá văn phong khoa học, đọc và phân tích các báo cáo nghiên cứu.
[4] SLS 660 Sociolinguistics: tập trung vào các vấn đề liên quan tới việc sử dụng ngôn ngữ như World Englishes, liên văn hóa, language policy & planning…

Sau đó thì là các môn tự chọn cụ thể hơn, tuỳ theo mối quan tâm của người học mà họ tự chọn những môn phù hợp, trên cơ sở tham vấn với cố vấn học tập. VD như Task-Based Language Teaching cho nhóm Language Education (LE), phương pháp nghiên cứu định tính, phương pháp nghiên cứu định lượng …Những môn này tùy theo mức độ phát triển hiện tại và là mảng nghiên cứu của các giáo sư…Sinh viên cũng có thể học các môn khác bên ngoài khoa như bên khoa Tâm Lý học hoặc trường Sư Phạm. NCS thì được/bị yêu cầu chọn một chuyên ngành hẹp chính và ba chuyên ngành hẹp phụ khác. Vì thế thời gian đầu bắt đầu làm nghiên cứu sinh họ phải học thêm các môn ở mảng nghiên cứu khác thay vì chỉ tập trung vào mỗi mảng nghiên cứu của mình. Cách làm này vừa là cơ hội cũng đồng thời là áp lực cho NCS. Cơ hội là họ không chỉ biết mỗi lĩnh vực nghiên cứu của mình mà còn tiếp cận với nhiều góc nhìn từ những mảng khác. Áp lực là khi họ phải vượt qua bài thi tổng hợp thì mới được tiếp tục tập trung vào luận án và viết luận án tiến sĩ.

Như vậy, SLS có những điểm chung và cũng có những điểm hơi khác một chút. TESOL chỉ tập trung vào dạy TIẾNG ANH, và thiên hướng thực hành hơn. SLS có một chuyên ngành hẹp là Language Education (LE) nhưng không chỉ tập trung vào Tiếng Anh, mà còn bao gồm cả những ngôn ngữ khác (tiếng Trung, Tiếng Ả-rập…) tuỳ theo lựa chọn của học viên. Applied linguistics (AL) thì có vẻ bao quát nhiều mảng hơn (ngoài dạy học ngoại ngữ thì còn có thể là ngôn ngữ luật, ngôn ngữ pháp y, xã hội học ngôn ngữ…). AL là lĩnh vực nghiên cứu tất cả những vấn đề thực tiễn mà có liên quan tới ngôn ngữ hoặc ngôn ngữ là trung gian, có thể bao gồm cả ngôn ngữ thứ nhất, thứ hai…Tuy nhiên, nhiều người cho rằng AL là ứng dụng của ngôn ngữ học (linguistis- applied) và cũng chưa có sự đồng thuận để đưa ra định nghĩa cho AL (nó là lĩnh vực bao gồm những gì, phạm vi đối tượng NC ra sao…).  SLS thay cho AL và tập trung vào “các vấn đề thực tiễn mà ngôn ngữ 2 (hoặc 3,4…) là trung tâm”. Nhiều người ngoài chuyên ngành với hay so sánh “second language” với “foreign language”. Tuy nhiên, đó là so sánh về “ngữ cảnh/context” còn với tư cách là một “ngành học/academic discipline”, SLS nghiên cứu nhiều ngữ cảnh khác nhau, bao gồm cả heritage language (vd. con em Việt Kiều thế hệ 1.5 trở lên học tiếng Việt ở Mỹ chẳng hạn) và nhiều ngôn ngữ khác nhau (ngôn ngữ thứ 2,3,4 như ở châu Âu đa số nói nhiều hơn 2 ngoại ngữ; và SLS cũng nghiên cứu cả các ngôn ngữ khác như tiếng Trung, tiếng Đức, tiếng Việt…).

Sự phân biệt rất tương đối và thường liên quan lẫn nhau (overlapping) và nhiều người cũng tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, mình chia sẻ góc nhìn của một người trong cuộc và cũng là góc nhìn có sự tìm hiểu, nghiên cứu trước đây (informed perspective).

Nhiều bạn hay hỏi mình về ngành học này nên mình viết bài này để tiện chia sẻ, đỡ phải viết email lặp lại nhiều lần.

Cộng hưởng: đơn giản mà vi diệu

Có những câu hỏi hết sức đơn giản mà lại rất khó tìm câu trả lời. Tại sao có người thích nhạc A trong khi những người khác lại điên cuồng vì nhạc B? Tại sao cùng một nội dung mà có người lĩnh hội được và nhiều người vật vã không hiểu nổi? Tại sao lại nói là cái ‘định mệnh’?…Cộng hưởng…

Khi nhắc tới “cộng hưởng” chúng ta thường liên hệ tới lĩnh vực vật lý nhằm mô tả những dao động riêng bị tác động bởi một (hoặc nhiều) dao động khác có cùng tần số làm cho biên độ của dao động đó đạt giá trị cực đại. Ứng dụng của hiện tượng cộng hưởng được thể hiện ở rất nhiều khía cạnh khác nhau, đơn giản như truyền thanh, truyền hình và phức tạp như sử dụng máy cộng hưởng từ trong y học. Nhưng ‘cộng hưởng’ trong bài này không chỉ là một hiện tượng vật lý mà là một quy luật vận hành của rất nhiều khía cạnh khác trong đời sống xã hội, nếu không muốn nói là mọi thứ trong vũ trụ. Thật ngây thơ để khái quát hoá một(vài) hiện tượng thành quy luật nhưng đôi khi sự chiêm nghiệm sâu sắc và quan sát tinh tế lại có những giá trị nhất định nào đó mà ta chưa thể biết được.

Nhiều năm trước đây (12 năm) mình đọc một cuốn sách và vô tình nghe tới thành ngữ: “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” nói tới những thứ tương đồng thì thưởng cộng hưởng với nhau. Một cách cơ học, vì chúng gần hoặc chung tần số. Ở khía cạnh khác thì người ta cũng nói đó chính là sự ‘đồng điệu trong tâm hồn’ hay đơn giản là ‘ngưu tầm ngưu, mã tầm mã’, ‘gần mực thì đen, gần đèn thì rạng’. Những câu nói trong dân gian thường dùng những thứ đơn giản để mô tả những điều phức tạp. Nhưng nếu cho rằng những câu nói đó thể hiện trình độ khoa học kỹ thuật tại thời điểm đó thì lại rất hàm hồ. Chẳng hạn như trước đây khi nhận xét về các tư tưởng triết học cổ đại, thầy dạy triết hay kết luận rằng những tư tưởng đó còn mông muội, sơ đẳng, quy đồng mọi thứ về những vật chất thô sơ để làm nổi bật cho một triết thuyết khác (phê phán ngũ hành, tứ đại…). Nhưng nếu xét cho kỹ thì có rất nhiều nhận định tự cổ chí kim lại khá tương đồng theo một góc độ nào đó. Đơn cử một ví dụ, Albert Einstein, từ năm 1916, dựa trên thuyết tương đối rộng của ông đã dự đoán có sóng hấp dẫn và gần đây các nhà khoa học đã tìm thấy sóng này, một bước tiến mới để giúp con người hiện tại hiểu tốt hơn về vũ trụ. Tuy nhiên, nỗ lực của con người cố gắng hiểu về vũ trụ thì không phải đến Albert Einstein mới có. Lão Tử, một triết gia thời Trung Hoa cổ đại nhận định:

Có một vật hỗn độn mà thành trước cả trời đất. Nó yên lặng, vô hình, đứng một mình mà không thay đổi vĩnh cửu, vân hành khắp vũ trụ không ngừng, có thể coi nó là mẹ của vạn vật trong thiên hạ. Ta không biết tên nó là gì, tạm đặt tên cho nó là đạo. Đạo mà diễn tả được thì đó không còn là đạo bất biến nữa, tên mà gọi ra được thì đó không còn là tên bất biến nữa.”  

Trong tiếng Việt, khi nhắc tới “đạo” thì người ta hay liên tưởng tới các tôn giáo (hoặc giáo phái) hay ám chỉ một phạm trù khác (đạo đức). Thực tế thì ‘đạo’ chỉ là một cách định danh, và chính vì những cách định danh mà xảy ra không ít các vấn đề xã hội. Từ việc định danh mà con người có tư duy phân loại (categorical thinking), dẫn đến sự ra đời của trật tự, thứ bậc và phân biệt…Nếu không có tri nhận và tên gọi về màu da, chủng tộc thì chắc gì đã có vấn đề phân biệt đối xử. Tất cả những khái niệm, tên gọi đều do con người (cùng) tạo ra và sau đó những danh xưng đó lại làm bó hẹp tư duy và ảnh hưởng tới nhãn quan của mỗi người. Chẳng hạn như khái niệm về giới, một khái niệm rất tương đối. Nếu như trước đây người ta vẫn tin rằng có hai giới Nam/Nữ thì theo thời gian khái niệm chẳng còn đúng nữa.

Trở lại vấn đề sóng và cộng hưởng, chúng ta sẽ nói rằng thật ngây ngô và thiếu hiểu biết khi đánh đồng Lão Tử, Albert Einstein, và các nhà khoa học nhóm LIGO phát hiện ra sóng hấp dẫn. Mặc nhiên, mỗi thế hệ, mỗi cá nhân mang đến những giá trị khác nhau nhưng chúng ta chẳng thể phủ nhận rằng họ (và chúng ta) đều có thể cảm quan về vũ trụ theo một cách nào đó. Nói tới cộng hưởng, nếu chúng ta coi vạn vật trong vũ trụ đều là vật chất (khái niệm của triết học Mác-Lê), kể cả ý thức hay tàng thức của con người cũng là các năng lượng hay vật chất cao cấp thì cộng hưởng sẽ được hiểu nhưng một sự vận động hết sức tự nhiên, chuyển hoá năng lượng từ dạng này sang dạng khác. ĐẠO vốn dĩ “yên lặng, vô hình” cho nên vạn vật luôn cố gắng tự cân bằng để trở về trạng thái yên lặng. Nhưng muôn vàn lực và xung lực đã và đang tác động lẫn nhau, vừa cộng hưởng, vừa triệt tiêu nhau nên mới có luôn hồi sinh tử. Niết bàn hay đắc đạo chính là vượt ra ngoài sự cộng hưởng, cho dù sự cộng hưởng đó tốt hay xấu. Nhưng nếu không vượt ra được thì có nhận biết về sự tồn tại của cộng hưởng tuân theo những dao động của chúng thì sẽ tốt hơn.

Nikola Teslamột nhà phát minh, nhà vật lý, kỹ sư cơ khí và kỹ sư điện người Mỹ gốc Serbia từng nói:

“If you want to find the secrets of the universe, think in terms of energy, frequency and vibration.” Nếu bạn muốn biết những bí mật của vũ trụ, hãy tư duy dựa vào năng lượng, tần số, và sự dao(rung) động.

Ông được biến đến với nhiều đóng góp mang tính cách mạng trong các lĩnh vực điện và từ trường trong cuối thế kỷ 19 đầu thế kỉ 20. Nhưng sinh thời, ông bị bị cô lập và bị coi là một nhà bác học điên lúc cuối đời. Có lẽ tần số tư tưởng của những người ở thời của ông chẳng thể cộng hưởng được với những cái thấy của ông.

FOLI: Chẳng có biến chuyển nào mà không có nhịp (there is no movement without rhythm)

 

 

Giáo viên & nhà nghiên cứu: văn phong

Blog “Evidence-based EFL” (tạm hiểu: dạy tiếng Anh thực chứng/dựa vào các nghiên cứu) gần đây chia sẻ một bài viết  có tên ‘Misapplied Linguistics’ (ngôn ngữ học ứng dụng-nhầm) phản ứng về tính ứng dụng của những nghiên cứu hàn lâm. Cụ thể, bài viết cho rằng nhà nghiên cứu sử dụng các thuật ngữ gây nhầm lẫn, diễn giải không đúng phát hiện của họ, và những người trung gian (giảng viên, đào tạo giáo viên) cũng hay hiểu sai. Những lập luận này không phải là không có lý vì từ lâu nay vẫn tồn tại nhận thức về sự phân chia giữa lý luận & thực tiễn. Tôi chia sẻ lại một vài suy nghĩ trước đây (02/2015), tập trung vào khía cạnh văn phong.

———-

Viết bao giờ cũng có mục đích, cũng có đối tượng đọc giả nhất định. Chính vì vậy văn phong khác nhau cũng dành cho những đối tượng khác nhau. Điều này thể hiện rõ ràng nhất trong văn phong khoa học. Từ trước tới nay, rất nhiều người phàn nàn và chỉ trích cho rằng văn phong khoa học khô cứng, hàn lâm, những người làm chuyên môn (professionals/practitioners) khó, thậm chí không thể tiếp cận được. Nhưng trên thực tế, thể loại văn phong này chủ yếu hướng tới đối tượng người đọc có cùng kinh nghiệm trong lĩnh vực ấy: những học giả & người làm công tác nghiên cứu.

Khi còn là giáo viên, đã không ít lần tôi thắc mắc và chỉ trích những công trình nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực giáo dục ngoại ngữ đôi khi chỉ ra những điều hết sức hiển nhiên mà bằng kinh nghiệm của một giáo viên mới vào nghề tôi cũng có thể nhận ra điều đó. Tuy nhiên, giờ đây tôi hiểu được những điều mình “biết” (knowing) và những “điều được kiểm chứng” (attested knowledge) là hoàn toàn khác nhau. Cho dù những điều được kiểm chứng không phải là chân lý tuyệt đối (absolute truth) nhưng rõ ràng ưu điểm của chúng là thường xác tín hơn (valid), bao quát hơn (representative), sâu sắc (logical) hơn những kinh nghiệm thông thường do quá trình tìm hiểu (inquiry) có tính hệ thống hơn (systematic) và luôn được phản biện nghiêm ngặt hơn (critically rigorous). Những kiến thức này được triết gia John Dewey gọi là “nhận định có tính đảm bảo” (warranted assertibility, 1981, p. 15).

Chính vì đặc thù của loại kiến thức này mà việc trình bày nó cũng có những quy định, thể thức nghiêm ngặt để những người đồng môn có thể xem xét, phản biện để từ đó có thể công nhận hoặc bác bỏ trước khi những kiến thức ấy có thể tới được đối tượng người đọc thông thường. Như vậy có thể thấy rằng, văn phong khoa học chủ yếu phục vụ cho những người làm khoa học, những người hàn lâm đã có kiến thức, kinh nghiệm tối thiểu trong lĩnh vực đó để có thể tiếp cận và sử dụng. Thể loại văn phong này được trình bày chủ yếu qua các bài báo đăng trên tạp chí hay các chuyên san, tuyển tập bài viết có tính chuyên môn hóa, mang kỹ thuật (technical) cao. Những người không tham gia vào cộng đồng này một cách thường xuyên, liên tục thì khó có thể tiếp cận được. Cho dù những người được đào tạo, có chuyên môn về lĩnh vực này, khi không cập nhật thường xuyên, họ khó có thể bắt kịp với những thay đổi về nghị trình nghiên cứu (research agenda), những tranh luận, giải thuyết mới đưa ra (new hypotheses/debates) hay những phương pháp nghiên cứu được bổ sung khác nữa (new research methods).

Đối với những nhà chuyên môn, họ cũng xây dựng và chia sẻ một thể loại văn phong khác phù hợp với nhu cầu, trình độ và kinh nghiệm của mình. Thể loại này cũng được chia sẻ qua các bài báo đăng trên các tạp chí, các cuốn sách có tính đặc thù và có đối tượng là những người cùng trong lĩnh vực nghề nghiệp giống nhau như giáo viên, luật sư, làm vườn…Tuy nhiên, những bài viết này không phải là bài báo khoa học, mặc dù đôi khi những người làm chuyên môn cũng có kinh nghiệm ở lĩnh vực khoa học và kết hợp một số kiến thức, kinh nghiệm, kỹ thuật ở lĩnh vực hàn lâm vào công tác chuyên môn. Trên thực tế cũng có rất nhiều người thành công cả ở hai lĩnh vực, tuy nhiên, để đánh giá và công nhận những bài báo khoa học thì phải dựa vào tạp chí theo định hướng nghiên cứu đã đăng bài báo đó thay vì chỉ có một bài báo trên tạp chí bất kỳ nào đó. Với sự phát triển công nghệ hiện nay, việc xuất bản và tự xuất bản không phải là một xu hướng quá mới mẻ đối với nhiều người. Mỗi người đều có thể tự đưa lên mạng những bài viết của mình cho dù có được kiểm chứng hay không. Và quan trọng là đối tượng người đọc, người sử dụng đánh giá, áp dụng những nội dung ấy ra sao.

Có thể thấy rằng có ba thể loại diễn ngôn trong lĩnh vực giáo dục ngoại ngữ: diễn ngôn khoa học (research-based discourse), diễn ngôn sư phạm (pedagody discourse) và diễn ngôn kết hợp (hybrid discourse) (theo Ellis & Shintani, 2014, p. 1-3). Việc tham gia, hiểu biết những ngôn ngữ đặc thù này cần một quá trình học tập và thực hành tích cực để có hiểu và vận dụng được. Đối với những người làm chuyên môn, họ không đợi cho tới khi tất các những kiến thức được kiểm chứng đã toàn diện mới đem ra áp dụng, mà thay vào đó họ phải vận dụng tất cả những cách tìm hiểu khác nhau (ways of knowing) để đưa ra quyết định cho công việc của mình (Dương Thiệu Tống, 2005). Đặc biệt là giáo viên, họ không thể đợi những nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục thật hoàn thiện và đem ra áp dụng, mà họ vẫn phải liên tục đối đầu với những thách thức khi chưa có đủ thông tin, và từ đó hình thành nên những kinh nghiệm trong thực tế qua quá trình thử sai (trial & error).

Do vậy, chúng ta không thể dùng kiến thức, kinh nghiệm, tiêu chuẩn ở nghề nghiệp này để đánh giá, áp đặt cho những sản phẩm, hoạt động của nghề nghiệp khác. Những người giáo viên đứng lớp không thể đòi hỏi những nhà nghiên cứu đưa ra đáp án cụ thể cho những thắc mắc  hay những giải pháp tóm gọn, dùng được ngay trên lớp học. Ngược lại, những học giả, nhà hàn lâm không thể áp đặt giáo viên phải dạy theo cách này, theo cách kia mà không tự nhận thức được những giới hạn, những thiếu sót của mình. Nhà nghiên cứu có thể chia sẻ những nhận định mới, những kiến thức mới, đa chiều để giáo viên có cơ hội mở rộng hơn chân trời nhận thức và từ đó ảnh hưởng tới hành động thực tế. Giáo viên cũng không ngừng chia sẻ những kinh nghiệm thực tế, những khó khăn vướng mắc của mình để ảnh hưởng tới nghị trình nghiên cứu của các nhà hàn lâm. Có như vậy thì cả hai công việc mới hy vọng tìm được tiếng nói chung và hỗ trợ tích cực cho nhau.

————

Để phần nào hình dung được sự nghiêm ngặt và đôi khi khắc nghiệt của thế giới hàn lâm, chúng ta có thể theo dõi những tranh luận về lợi ích của những người song ngữ (bilinguals) qua một bài viết gần đây: The Bitter Fight Over the Benefits of Bilingualism;

Trau dồi năng lực liên văn hoá qua PBLL

Hội thảo HITESOL  diễn ra ngày 13/02/2016 với chủ đề (theme) “Languacultures and ELT”, lần này BTC mời chủ tịch hiệp hội giảng dạy tiếng Anh TESOL Andy Curtis làm diễn giả chính. Bài nói của TS. Andy Curtis tập trung vào khía cạnh đa văn hoá, đa ngôn ngữ, đặc biệt trong bối cảnh Hawai’i. Những câu chuyện cá nhân của Andy được chia sẻ theo một cách rất dí dỏm và hết sức thú vị. Andy chuyển công việc y khoa tại một bệnh viện sang theo đuổi khoa học xã hội, làm chuyên gia của lĩnh vực giao tiếp liên văn hoá và đóng góp rất nhiều cho lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh. Những quan sát xã hội học hết sức thú vị trong mấy ngày ở Hawaii làm bài nói của ông rất sâu sắc. Trong những lần đi công tác, thay vì ở trong khách sạn 5 sao thì ông cũng tranh thủ thời gian “lê la” bên các cửa hàng McDonald vào những thời điểm mà dân địa phương hay lui tới. Làm như vậy mới thấy được bức tranh muôn màu của xã hội chứ không chỉ ở mãi trong tháp ngà mà phán xét.

Đóng góp chung vào chủ đề chính của hội thảo, mình cũng có một bài báo cáo với tựa đề “Trau dồi năng lực liên văn hoá qua cách tiếp cận dự án trong dạy-học ngôn ngữ”. Khi gửi tóm tắt, bài trình bày có tiêu đề là: “Integrating/Tích hợp” nhưng sau suy nghĩ kỹ hơn thì mình thấy rằng năng lực liên văn hoá không phải là cái có sẵn để mà tích hợp, ngược lại năng lực này cần được ‘trau dồi/cultivate’ theo thời gian. Cách tiếp cận dạy-học ngoại ngữ qua dự án được sử dụng để giúp người học phát triển năng lực này.

Lấy từ một phần của bài viết cho một môn học trước đó (SLS610), bài báo cáo tổng thuật lại lối tiếp cận dạy-học qua dự án trong lĩnh vực giảng dạy ngoại ngữ và đề xuất những nghiên cứu chặt chẽ hơn cho đường hướng này. Bài trình bày gồm ba phần: (1) lý luận về dạy-học ngoại ngữ qua dự án; (2) năng lực liên văn hoá; (3) trau dồi năng lực liên văn hoá qua PBLL trong thực tế. Dạy học theo lối tiếp cận dự án (PBL) là một trong những xu hướng được rất nhiều người làm công tác giáo dục quan tâm, đặc biệt trong giáo dục nói chung. Theo thời gian, nhiều người trong lĩnh vực giảng dạy ngoại ngữ cũng bắt đầu quan tâm và thúc đẩy lối tiếp cận này (PBLL). Với PBL, có nhiều nghiên cứu từ lĩnh vực tâm lý giáo dục đưa ra các lý luận nền tảng, nhưng với PBLL thì chưa thấy cách diễn giải nào có tính bao quát và hợp lý. Thêm vào đó, các nhà giáo dục cũng chẳng thể đồng thuận với nhau để có thể đưa ra được một định nghĩa đơn nhất cho PBL hay PBLL. Thay vào đó, họ thường liệt kê ra các đặc điểm, yêu cầu để PBL/PBLL được thiết kế, triển khai, áp dụng thành công.

Trong bài này, mình cố gắng chỉ ra những lý luận trong lĩnh vực thụ đắc ngôn ngữ hai (SLA) và một số cách tiếp cận trong phát triển chương trình để làm lý luận nền tảng cho PBLL. Tiếp đó là đề cập tới khía cạnh liên văn hoá, qua đó người học ngoại ngữ hiện nay không chỉ cần hiểu biết về văn hoá của ngôn ngữ đích mà còn phải có hiểu biết về chính văn hoá của mình. Có được như vậy họ mới sử dụng tiếng Anh một cách phù hợp trong những bối cảnh khác nhau, phông văn hoá khác nhau, đặc biệt khi tiếng Anh được sử dụng như ngôn ngữ chung không chỉ của riêng các quốc gia truyền thống (inner circle theo cách phân loại của Kachru).

Tham dự nhiều bài trình bày khác nhau, mình có cơ hội chiêm nghiệm lại những kinh nghiệm trước đó. Đặc biệt qua một bài trình bày của một diễn giả đến từ Trung Quốc. Chị ấy nói về việc tích hợp kỹ năng liên văn hoá trong lớp học đông ở các trường đại học Trung Quốc thông qua cuộc thi “nghiệp vụ giảng viên”, tương tự như thi giáo viên giỏi nhưng người tham gia là các giảng viên đại học. Trước đây mình rất quen thuộc với hoạt động này ở các trường phổ thông, nhưng tình cờ lần này quan sát từ góc nhìn khác thấy hoạt động này mới kỳ cục làm sao. Đúng là bản chất của cuộc thi, nên người dự thi chỉ cố gắng biểu diễn, nói thao thao bất tuyệt và người học chỉ nghe mà chẳng làm được gì nhiều. Mình nghĩ rằng đó là thi biểu diễn (performance) chứ đâu phải thi dạy giỏi (teaching) vì chất lượng dạy học của một người giáo viên đâu có thể đánh giá được qua một tiết học, một bài biểu diễn. Anh bạn cùng lớp ngồi bên cạnh nói vui: “Tui thấy không phải là teaching contest mà là teaching to death”. Mình chêm vào: “tui thì thấy cái năng lực liên văn hoá đó không thể ban phát hay dạy được, mà chỉ  là người học lĩnh hội được”. Lúc này vai trò của người giáo viên chính là thiết kế, tổ chức các hoạt động dạy-học giúp người học trau dồi. Chính vì thế mà đôi khi trên lớp học tưởng chừng người giáo viên không làm gì mà lại làm rất nhiều. Thế là có thêm câu chốt để chua thêm vào bài trình bày của mình buổi chiều: “For PBLL, teaching is invisible, learning is tangible”. Nghĩa là giáo viên là người tư duy thiết kế, người học thực hiện và thể hiện thành quả học tập của mình qua những sản phẩm cụ thể.

Cũng nhân dịp logo mới mình thiết kế cho HITESOL được trưng dụng nên các trang chiếu cũng được chuẩn bị theo các hoạ tiết của logo. Điều vô cùng thú vị là mọi người rất thích thú với diện mạo mới và sử dụng trong tất cả các hoạt động (trang web, ấn phẩm, chương trình hội thảo…). Chỉ là chút mẹo vặt và mấy kỹ năng đồ hoạ hạn chế nhưng lại được đón nhận và ghi nhận nhiệt tình (điều này lạ lạ vì mình vẫn làm cho vui và ở nhà ta chẳng ai mấy quan tâm, ghi nhận). Thế là mình cũng cải thiện một chút về năng lực liên văn hoá…học cách ghi nhận cả nhừng điểu nhỏ nhặt, tiểu tiết…

from Hawai'i TESOL Newsletter
from Hawai’i TESOL Newsletter

Vài bức ảnh từ hội thảo:

Phân loại tạp chí trong lĩnh vực ngoại ngữ

Bài viết này bắt nguồn từ thắc mắc mình đã có từ rất lâu về các ấn phẩm trong lĩnh vực giáo dục nói chung và ngoại ngữ nói riêng. Đôi khi, nếu chúng ta quan sát hoặc để ý một chút, một tính từ trong tiếng Việt rất được ưa chuộng và đôi khi bị lạm dụng để nói về tầm cỡ một hoạt động nào đó là từ “quốc tế” (international), ví dụ như tạp chí quốc tế, hội thảo quốc tế, trường quốc tế, chương trình quốc tế, rồi tất cả các “tế” được đưa vào diễn ngôn như một công cụ để làm nổi bật tầm quan trọng của một thực thể, sự kiện nào đó. Cũng giống như các từ thời thượng khác như sáng tạo, đổi mới, tư duy phản biện, kỹ năng mềm…khả năng “đánh bóng” của những từ này thường rất hiệu quả, nên hay được dùng nhiều trong các chương trình thương mại và hoạt động kinh doanh. Đôi khi người ta dùng chúng nhưng một công cụ tiếp thị (selling/marketing points) mà chẳng định nghĩa rõ xem nó là gì. Chúng ta có thể kiểm chứng bằng cách mỗi lần nghe ai đó nói những từ hoa mỹ này, chen ngang và hỏi họ xem họ đang ám chỉ tới nội dung cụ thể nào. Chắc chắn chúng ta sẽ có được những quan sát và bài học vô cùng thú vị.

Mặc dầu vậy, ở một góc độ khác, việc mập mờ của những mỹ từ này lại là công cụ béo bở để người ta có thể nhập nhằng giữa những thứ chẳng ai định nghĩa chính xác được. Một quan sát dễ thấy là các trường đại học yêu cầu giáo viên phải có công bố quốc tế. Yêu cầu cụ thể của công bố quốc tế này là gì? Một bài viết dùng ngoại ngữ và đăng tải ở đâu đó ngoài Việt Nam? Sau một thời gian dài tìm hiểu mình xin phép tóm lược lại hiểu biết (nông cạn) để giúp những người dạy-học, nghiên cứu ngoại ngữ có cách nhìn phản biện hơn. Qua đây, chúng ta cũng có cách nhìn bao quát hơn để từ đó đặt mục tiêu, lập kết hoạch và triển khai các hoạt động tiếp cận, sử dụng và đăng bài trên các tạp chí. Có nhiều tiêu chí và tiêu chuẩn để đánh giá một bài viết, một tạp chí, một cuốn sách hoặc một trang web nào đó, nhưng để thuận tiện, chúng ta cùng giới hạn lại thành hai khía cạnh (dimensions) để tiện theo dõi.

Khía cạnh thứ nhất là mục đích của các tạp chí thể hiện qua đối tượng người đọc mà họ nhắm tới. Trong lĩnh vực giảng dạy, nghiên cứu ngoại ngữ thì chúng ta có thể phân loại thành hai nhóm chính: tạp chí nghề nghiệp và tạp chí nghiên cứu. Tạp chí nghề nghiệp trong lĩnh vực dạy-học ngoại ngữ thường là các bài viết nhằm giúp những người trong cùng cộng đồng hành nghiệp nâng cao hiểu biết và kỹ năng chuyên môn của họ. Các bài viết đôi khi là những kinh nghiệm tích lũy được, đôi khi là những cách làm cụ thể để giúp người khác có thể thực hiện theo, hoặc cũng có khi là một giáo án cụ thể. Tạp chí với mục đích phục vụ chuyên môn cho những người hành nghiệp thường ngắn gọn, cụ thể, được xuất bản qua tổ chức, hội nghề nghiệp trên khu vực nhất định, thông qua newsletter, magazines….Tạp chí nghiên cứu có đối tượng đọc giả chủ yếu là các nhà nghiên cứu trong cùng lĩnh vực yêu cầu kiến thức chuyên biệt, thường những bài viết này có nhiều trích dẫn và sử dụng nhiều thuật ngữ, cách tiếp cận tương đối hàn lâm, những người ‘bên ngoài’ đôi khi rất khó tiếp cận. Trong lĩnh vực ngôn ngữ hai, có rất nhiều tạp chí thuộc hẳn một trong hai trường phái, còn lại đa số nằm rải rác từ mục đích nghề nghiệp tới mục đích nghiên cứu. Chẳng hạn như một số tạp chí nghiên cứu nhưng lại có một chuyên mục dành cho những người thực hành như kinh nghiệm dạy học, nghiên cứu hành động, chiêm nghiệm…Ngược lại một số tạp chí nghề nghiệp cũng đăng các bài viết được nghiên cứu một cách có hệ thống. Việc phân loại thành hai nhóm này chỉ có tính tương đối vì phạm vi, mục đích của các bài viết, các tạp chí có thể hướng vào nhóm này hoặc hướng vào nhóm còn lại, hoặc đôi khi nhằm vào cả hai (thể hiện qua sự liên tục như hình dưới đây).

Khía cạnh thứ hai là mức độ mở của các tạp chí. Cũng tương tự như khía cạnh mục đích đã thảo luận bên trên, chúng ta không nên cho rằng các tạp chí hoặc là mở hoặc là đóng mà các tạp chí thường có các mức độ mở khác nhau. Mở ở đây có hai cách tiếp cận. Mở thứ nhất có nghĩa là mọi người đều có thể truy cập. Đóng có nghĩa là chúng ta phải trả phí để có thể truy cập và sử dụng. Thường những tạp chí đóng thì có lịch sử khá lâu đời và cũng có uy tín cao. Các bài viết trong những tạp chí này được bình duyệt, biên tập và trình bày rất chuyên nghiệp. Điều này không có nghĩa là những tạp chí mở chất lượng thấp hơn hoặc thiếu chuyên nghiệp hơn. Mở thứ hai có nghĩa là mức độ, phạm vi sử dụng của những bài viết trên mỗi tạp chí. Ví dụ như một số tạp chí thì yêu cầu người dùng xin phép nhà xuất bản trước khi sử dụng vào mục đích khác (thương mại, in lại, hoặc sử dụng trong các cuốn sách), trong khi một số tạp chí thì sử dụng tiêu chuẩn mở (creative commons), và cũng tùy theo mức độ cho phép khác nhau mà người dùng có quyền sử dụng khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta đều có thể sử dụng cho mục đích học tập, nghiên cứu cá nhân hoặc cho các hoạt động giáo dục, phi lợi nhuận.

Một khía cạnh khác chúng ta cần lưu tâm là các bài viết trong mỗi tạp chí có được bình duyệt (peer review) hay chỉ do người biên tập thẩm định, chỉnh sửa rồi đăng. Thông thường, các bài báo trong tạp chí nghiên cứu được gửi đi bình duyệt và quy trình khá tốn thời gian. Một số tạp chí chuyên môn cũng có yêu cầu bình duyệt, nhưng trong mỗi tạp chí có thể một số mục được yêu cầu bình duyệt, một số mục thì không bắt buộc. Thông qua quy trình bình duyệt thì nội dung các bài viết có thể chặt chẽ hơn, tin cậy hơn nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta chỉ chấp nhận những gì được phát biểu trong đó mà quên đặt ra những nghi vấn và đưa ra những ý kiến phản biện. Trình độ, uy tín của ban biên tập và những người tham gia bình duyệt không hoàn toàn như nhau vậy nên chất lượng bài viết trong các tạp chí cũng khá đa dạng.

Như chúng ta có thể quan sát qua hình dưới đây thể hiện sự tương tác hai chiều về mức độ mở và mục đích tạp chí. Nhóm thứ nhất là OPEN-PROFESSIONAL bao gồm các tạp chí đăng tải miễn phí trên các trang web, miễn phí truy cập. Nổi bật trong nhóm này là tạp chí English Teaching Forum, do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tài trợ, ra bốn số mỗi năm. Tạp chí được phát hành dạng bản in thông qua các Đại sứ quán của Hoa Kỳ từ năm 1962, bản điện tử được phát hành từ năm 2001. Tuy nhiên, ai quan tâm thêm các số ra trước đó từ 1994-1999 cũng có thể truy cập tại địa chỉ sau. Một số tạp chí khác tương tự cũng xuất hiện sau đó thông qua các tổ chức giáo dục hoặc các trường đại học.

Nhóm thứ hai là OPEN-RESEARCH bao gồm nhiều tạp chí dành cho các nhà nghiên cứu nhưng có thể truy cập mở, ai cũng có thể tiếp cận. Các bài viết trong những tạp chí này thường yêu cầu người đọc có kiến thức nền và hiểu biết về các phương pháp nghiên cứu được sử dụng. Từ đó giúp người đọc đánh giá tốt hơn chất lượng các bài viết và những nhận định đưa ra từ những bài viết này. Đa số những tạp chí này được tài trợ qua các dự án nghiên cứu hoặc các tổ chức…Nhiều tạp chí rất có uy tín và tăng dần vị trí trong bảng xếp hạng như Language Learning & Technology, PROFILE…

Phân loại tạp chí trong lĩnh vực ngôn ngữ 2
Phân loại tạp chí trong lĩnh vực ngôn ngữ 2
Nhóm tiếp theo là CLOSE-PROFESSIONAL bao gồm các tạp chí định hướng nghề nghiệp nhưng do các nhà xuất bản giữ bản quyền và thu phí truy cập. Người dùng thường phải trả phí thông qua đăng ký trực tiếp hoặc các trường trả phí truy cập. Nổi bật trong nhóm này là tạp chí ELT Journal của Anh, có lịch sử khá lâu đời, bắt đầu từ năm 1946. Tương ứng với ELT Journal là TESOL Journal xuất bản ở Hoa Kỳ.
Nhóm cuối cùng xét trong hai khía cạnh đã nêu là CLOSE-RESEARCH bao gồm những tạp chí giữ vai trò như diễn đàn cho các nhà nghiên cứu trao đổi, chia sẻ. Nổi bật trong nhóm này là tạp chí Language Learning (ra đời 1946), đây cũng là tạp chí có vị trí xếp hạng cao nhất thuộc lĩnh vực nghiên cứu ngoại ngữ trong nhiều năm. Tuy nhiên, nhiều tạp chí khác cũng bắt đầu vươn lên. Ai quan tâm tới bảng xếp hạng và các chỉ số có thể tham khảo thêm công cụ xếp hạng của SCImago dành cho nhóm ngôn ngữ và ngôn ngữ học (Language and Linguistics). Đây cũng là cách chúng ta có thể tìm hiểu thêm về một số tạp chí để từ đó có những quyết định phù hợp cho mục đích sử dụng và gửi bài.
Vậy cách phân loại này có ý nghĩa gì? Như một thói quen, chúng ta nên đặt câu hỏi “so what?” để đào sâu hơn vấn đề đang quan tâm. Nếu như trước đây, mình hay thắc mắc rằng tại sao các nhà nghiên đôi khi đưa ra những nhận định mà rất hiển nhiên với một người dạy ngoại ngữ nhưng lại thông qua những ngôn ngữ và cách diễn đạt rất phức tạp thì giờ đây mình hiểu một phần rằng bài viết của các học giả đôi khi không dành cho giáo viên hoặc người làm trực tiếp. Họ quan tâm tới hiểu biết, kiến thức nhiều hơn là việc họ làm được gì với những hiểu biết đó. Người giáo viên thì tiếp cận thực dụng hơn vì họ cần phải giải quyết vấn đề thực tiễn. Như vậy, từ cách phân loại thành hai nhóm, chúng ta có thể lựa chọn tạp chí phù hợp với nhu cầu, mục đích của mình để tiếp cận, sử dụng. Những tạp chí CLOSE thường khó truy cập được vì thư viện các trường đại học phải trả rất nhiều tiền cho các nhà xuất bản. Ở Việt Nam, việc các trường đại học dành khoản tiền lớn để mua các cơ sở dữ liệu thường khá khiêm tốn. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều tạp chí xuất bản mở và các bài viết cũng có chất lượng rất tốt. Mặt trái của xu hướng mở là các tạp chí ma, nhà xuất bản ma ra đời rất nhiều để những người muốn đăng bài có thể trả một khoản phí để được xuất bản. Cũng có một loại hình trả phí khác là thông qua các nhà xuất bản và các tạp chí CLOSE, tác giả trả phí để bài báo của họ được miễn phí truy cập. Mình đã liệt kê các tạp chí MỞ trong lĩnh vực nghiên cứu ngoại ngữ ở mục tài nguyên, ai quan tâm có thể tham khảo.
Việc liệt kê những tạp chí MỞ này dựa vào một vài tiêu chí và kinh nghiệm cá nhân, nên chúng ta tiếp cận cũng cần có tinh thần phản biện. Dân gian đã có câu “Chiếc áo không làm nên thầy tu”, vì vậy mỗi người cần dựa vào kiến thức chuyên môn của mình mà đánh giá. Không phải vì một bài báo đăng trên tạp chí có xếp hạng thấp mà chất lượng hoặc mức ảnh hưởng giảm đi và ngược lại, không phải cứ bài nào đăng trên tạp chí có xếp hạng cao cũng có tác động tốt, cho dù các xếp hạng dựa vào những chỉ số khác nhau. Chẳng hạn như, một công trình được cộng đồng nghiên cứu đánh giá cao, trích dẫn nhiều nhưng đôi khi lại ít có giá trị trong thực tiễn giảng dạy của giáo viên…Vậy nên, chúng ta cần “lựa cơm, gắp mắm” và không ngừng hoài nghi và phản biện.
Việc gửi bài và đăng bài cũng tương tự như vậy, nếu bài viết của chúng ta hữu ích cho những người dạy-học thì gửi cho các tạp chí nghề nghiệp sẽ phù hợp hơn. Nếu chúng ta muốn nhiều người có thể đọc và sử dụng thì nhắm tới các tạp chí mở. Tương tự, những bài viết từ những công trình nghiên cứu công phu, bài bản và đóng góp thêm vào kiến thức chung của ngành thì nên được đăng trên các tạp chí nghiên cứu, tuy nhiên cũng sẽ mất thời gian nhiều hơn và yêu cầu cao hơn. (Kinh nghiệm gửi bài báo nên tham khảo Willy A Renandya qua bài viết trên ELTWO)
Cũng từ cách tiếp cận này mà chúng ta nên có cách đánh giá phù hợp hơn. Nếu A là một nhà nghiên cứu (thường có bằng tiến sĩ) thì năng lực của A phải thể hiện qua các bài báo đăng trên tạp chí phù hợp (chứ không phải cứ ‘quốc tế’ chung chung). Ngược lại, nếu B là một giáo viên ngoại ngữ thì B có năng lực dạy học, có chuyên môn hay không thì cần có nhiều tiêu chí, cách tiếp cận khác chứ không phải thông qua mỗi hoạt động xuất bản của B.

Cách tìm kiếm các bài viết học thuật (*)

Nhiều lần tham gia bồi dưỡng giáo viên phổ thông theo đề án 2020, mình hay sử dụng những nguồn học liệu mở, gửi một (vài) địa chỉ trang web và yêu cầu các thầy cô nhập vào thanh địa chỉ, một lát sau thấy các thầy cô báo lại là không truy nhập được. Hóa ra các thầy cô gõ địa chỉ đó vào công cụ tìm kiếm Google. Công cụng tìm kiếm Google phổ biến tới mức nhiều người quen dùng như một phản xạ tự nhiên, quên cả thanh địa chỉ thành ra có cả những câu vần vè (chế từ nguyên tác của cụ Nguyễn Du)

Trăm năm trong cõi người ta,/Cái gì không biết thì tra Gu-gồ (Google)

Cũng tương tự như vậy, nhiều người vẫn hay nói là Dr. Google cái gì cũng biết. Tuy nhiên, công cụ hữu ích như vậy nhưng không phải ai cũng có kỹ năng tìm kiếm, khai thác thông tin hiệu quả như nhau. Hai bạn đồng môn của mình, thông minh như nhau, hoạt bát như nhau và lúc nào cũng là hai ngôi sao trong lớp mỗi lần các bạn tham gia phát biểu. Thế nhưng một người lúc nào cũng nhàn hạ, một người thì rất tất bật. Một bạn thì luôn tìm được những thứ bạn ấy muốn khi cần và một bạn thì tìm mãi không được. Điều này được thể hiện rõ khi hai bạn làm việc nhóm với nhau về cùng một dự án. Bạn tất bận thắc mắc: ‘Sao tớ tìm mãi không được mà bạn tìm là thấy tài liệu phù hợp ngay?’ (cả hai đều là người bản ngữ)

Nói như vậy để thấy không phải cứ biết dùng công cụ là chúng ta có thể tìm kiếm hiệu quả. Đó phải là sự kết hợp giữa công cụ với kiến thức chuyên môn, cộng với kinh nghiệm tìm kiếm được tích lũy, phát triển theo thời gian của mỗi người. Trong bài viết này, mình chia sẻ một số kỹ thuật hay sử dụng từ kinh nghiệm cá nhân, đặc biệt khi tìm kiếm các bài viết học thuật, phục vụ cho các mục đích học tập, nghiên cứu. Với những mục đích khác nhau thì kỹ thuật tìm kiếm cũng khác nhau, những cách tiếp cận dưới đây dành cho những tài liệu mang tính học thuật (academic), và chủ yếu cho ngành dạy-học ngoại ngữ.

Tìm khái quát/Global search

Lợi thế của việc tìm kiếm tài liệu một cách bao quát là chúng ta sẽ không bỏ sót những bài viết, công trình quan trọng mà có thể ẩn lấp ở đâu đó. Nếu chỉ chăm chú vào những nguồn quen thuộc thì chúng ta sẽ bỏ sót nhiều. Câu chuyện thú vị tôi nghe được từ kinh nghiệm của một giáo sư là khi tôi thắc mắc tại sao từ những năm 80-90 khi trong lĩnh vực tâm lý học, giáo dục học nhiều học giả đã tiếp cận động cơ, động lực học tập từ nhiều góc độ rất đa dạng mà trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ 2 lại chỉ tập trung vào công trình của Gardner. Mãi sau này mới có những cách tiếp cận khác qua các bài phân tích phản biện. Ông giáo sư nói thật rằng những người trong ngành lúc đó chủ yếu tiếp cận thông tin qua tạp chí in, chứ không được đa dạng, đa chiều như thời bây giờ có internet và những cơ sở dữ liệu lớn cho phép các nhà nghiên cứu tìm kiếm liên ngành. Câu chuyện cho thấy sự hạn chế về công nghệ và cũng là văn hóa bộ lạc (tribal culture) trong cộng đồng những người nghiên cứu. Đôi khi, một người đã quen với một vài lối tiếp cận (niềm tin của họ về bản thể luận, nhận thức luận, phương pháp luận) rất khó thay đổi lối suy nghĩ hoặc nhìn ra bên ngoài lĩnh vực nghiên cứu của mình, thậm chí sẵn sàng thiên kiến để bảo vệ lập trường của họ. Vì thế, tìm khái quát cũng là một cách nghĩ bao quát, cân bằng tránh lối tiếp cận mang tính phiến diện.

Tuy nhiên, nếu không giới hạn thì chúng ta lại có quá nhiều thông tin không chọn lọc hết. Như một thói quen, khi phải tìm kiếm thông tin gì là mọi người hay lên mạng và tra cứu qua công cụ Google. Chỉ cần một từ khóa đưa vào thì trong một hai giây đã có hàng ngàn, hàng triệu kết quả được liệt kê. Nhưng khi tìm kiếm các bài viết học thuật, công cụ này không phải lúc nào cũng hữu dụng vì nó tìm tất cả những gì liên quan tới từ khóa chứ không tập trung vào một mảng cụ thể nào cả. Chính vì vậy mà Google cung cấp một công cụ tìm kiếm chuyên biệt hơn có tên là Google Scholar (google dành cho học giả/học thuật). Google Scholar là công cụ phổ biến, tìm tất cả những bài viết liên quan tới từ khóa đưa vào, có thể sử dụng các bộ lọc để tìm chính xác hơn. Thêm vào đó, người dùng cũng có thể một phần đánh giá được chất lượng của bài báo qua các chỉ số cung cấp sẵn. Mình có làm một video chia sẻ cách dùng Google scholar ở đây (tạm thời).

Ngoài Google Scholar thì còn rất nhiều công cụ tìm kiếm khác như JURN giúp tìm kiếm các bài báo, chương sách và luận văn miễn phí; ERIC tìm và cho phép tiếp cận các bài tóm tắt, đôi khi toàn văn của rất nhiều bài báo trong lĩnh vực giáo dục; OpenDOAR tìm tất cả các công trình có tính học thuật qua các thư mục mở; đặc biệt là JSTOR (viết tắt của Journal Storage) là thư viện điện tử ra đời từ 1995, bao gồm tóm tắt của tất cả các tạp chí, sách trước đây và hiện nay được số hóa, cung cấp toàn văn cho gần 2000 tạp chí. Tương tự như JSTOR là Project MUSE, dự án phi lợi nhuận do hiệp hội thư viện cộng tác với là xuất bản để tạo ta cơ sở dữ liệu trực tuyến cho hơn 300.000 tạp chí học thuật có bình duyệt và 700.000 chương sách điện tử, chủ yếu dành cho lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. (tương tự như Project MUSE cho khoa học tự nhiên là The arXiv).

Bên cạnh những công cụ miễn phí kể trên, một số công cụ có thu phí (thường thông qua thư viện các trường đại học) được nhiều học giả hay sử dụng là Linguistics and Language Behavior Abstracts (LLBA),  Education Full Text của ESBCO…Thêm vào đó là công cụ tìm kiếm qua thư viện của các trường đại học (tạm gọi U search engines), đặc biệt là từ các trường công. Rất nhiều trường chia sẻ các công trình của cán bộ trong trường lên hệ thống mở để mọi người đều có thể truy cập được, VD. Đại học Hawaii có ScholarSpace và công cụ tìm kiếm One Search hay Đại học Amsterdam, Hà Lan có công cụ tìm CataloguePlus; Đại học Thái Nguyên có đăng ký cơ sở dữ liệu ProQUEST Central.

Tìm chuyên sâu/Local search

Sau khi tìm qua các công cụ tìm kiếm bao quát thì chúng ta cũng có thể tìm trong từng tạp chí cụ thể. Phần này yêu cầu nhiều kiến thức chuyên môn nhiều hơn khi người tìm cần biết rõ tạp chí nào phù hợp cho những mảng nghiên cứu của mình. Đa số các tạp chí hiện nay đều được phát hành trực tuyến dưới dạng điện tử, vậy nên chỉ cần chúng ta vào trang web của tạp chí đó là gõ từ khóa vào tìm kiếm là chúng ta có thể thấy được các bài báo phù hợp. Ví dụ, mình truy cập vào tạp chí Language Learning, một trong những tạp chí hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ 2. Chỉ cần gõ từ khóa ‘motivation’ vào ô tìm kiếm, sau vài giây đã cho 581 kết quả. (xem hình dưới đây)

ảnh chụp màn hình Wiley Online Library
~ ảnh chụp màn hình Wiley Online Library
~ ảnh chụp màn hình Wiley Online Library
~ ảnh chụp màn hình Wiley Online Library

Bên cạnh tìm qua từng tạp chí cụ thể, chúng ta cũng có thể tìm qua các chuyên gia đầu ngành. Đa số các nhà nghiên cứu/học giả hiện nay đều có trang web riêng chia sẻ công trình nghiên cứu của họ. Trên đó họ chia sẻ các bài báo đã xuất bản, các công trình đang triển khai…Việc biết ai (who) cũng quan trọng không kém việc biết gì (what). Ví dụ, trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ 2, Zoltán Dörnyei được biết đến chủ yếu về các công trình nghiên cứu tới động cơ học tập, có trang web tại địa chỉ http://www.zoltandornyei.co.uk chia sẻ rất nhiều nội dung hữu ích. Hoặc như giáo sư Stephen Krashen rất nổi tiếng với giả thuyết input (ngữ nhập). Đâu đó, mình đã bắt gặp danh mục tên các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực ngôn ngữ 2 từ A tới Z. (Directory of Linguists)

Một cách tìm kiếm sâu khác là chúng ta có thể hỏi trực tiếp trên các diễn đàn, các cộng đồng hành nghiệp (Community of Practice). Đây thường là các diễn đàn chuyên môn hoạt động qua các các nhóm trên FB, hoặc mailing list. Chúng ta có thể hỏi để khai thác trí tuệ đám đông. VD. như Teacher Voices; VieTESOL, EUROCALL…Cũng giống như tìm trong các tạp chí, chúng ta cần biết mình muốn gì và nhóm nào thì có thể giúp được.

Tìm thủ công/Manual search

Cuối cùng là một số cách tìm kiếm, tương đối thủ công. Chúng ta có thể hỏi những người kinh nghiệm hơn, đặc biệt những người có chuyên môn sâu về mảng chúng ta quan tâm ở cùng đơn vị công tác, hoặc cũng có thể email trực tiếp cho những người mà chúng ta nghĩ họ có thể giúp (personal email). Email trực tiếp cũng là một cách kết nối tốt, thuận lợi cho những trao đổi mang tính học thuật về sau. Khi mình đọc một bài viết về “phân tích nhân tố khám phá”/exploratory factor analysis (EFA), mình đã email cho tác giả bài báo đó, ngày hôm sau bác ấy gửi cho cả cuốn sách ebook gần trăm trang để tìm hiểu thêm.  

Một cách tìm thủ công khác là thông qua danh mục tham khảo từ một bài báo chúng ta đang đọc (List of References). Khi đã có một bài báo liên quan, nhất là các bài có uy tín và mới phát hành gần đây thì các trích dẫn bài báo đó sử dụng cũng là một nguồn tham khảo tốt. Tương tự, chúng ta cũng có thể tìm tất hầu hết các công trình nghiên cứu về một nội dung cụ thể nào đó thông qua Bibliography (tạm gọi là danh mục các bài báo, sách chuyên khảo về từng lĩnh vực cụ thể). Rất nhiều nhà nghiên cứu và các nhóm chuyên sâu duy trì và chia sẻ các danh mục này. Chẳng hạn, nếu chúng ta quan tâm tới đọc mở rộng ER (extensive reading) thì các công trình nghiên cứu về ER được tập hợp tại đây; Hay những ai quan tâm tới autonomy trong học ngoại ngữ có thể tham khảo danh mục của Hayo Reinders. Mẹo nhỏ là hãy sử dụng từ khóa “Bibliography + mảng nghiên cứu” bạn quan tâm vào Google, chúng ta sẽ thấy các danh mục này ở dạng doc. hoặc pdf. …

Cuối cùng, nếu như trước đây, khi mình xem phần chỉ mục (index) ở cuối sách thì giống y như gà xem tranh, chẳng biết họ để những cái chỉ mục đó để làm gì. Giờ thì mình hiểu ra là để giúp chúng ta tìm kiếm tốt hơn, đặc biệt là khi không dùng các công cụ điện tử. Cách này có thể giờ không còn phổ biến, nhưng đôi khi hữu dụng.

Kết luận

Trên đây mình đã chia sẻ một số cách tìm kiếm từ kinh nghiệm cá nhân và phân loại theo 3 cách tiếp cận chính. Nhưng trên thực tế quy trình đó chẳng bao giờ diễn ra tuần tự, mà mình kết hợp nhiều phương pháp, kỹ thuật tìm kiếm khác nhau theo thời điểm khác nhau và nhu cầu khác nhau. Nếu chỉ sử dụng mãi một công cụ/một cách tiếp cận thì rõ ràng dễ rơi vào “publication bias” (chẳng hạn như các học giả phương Tây chẳng mấy khi tiếp cận những bài báo học thuật từ những quốc gia khác, đặc biệt là các tài liệu này được viết bằng ngôn ngữ không phải tiếng Anh…)

Từ kinh nghiệm cá nhân, mình thấy kỹ thuật tìm kiếm cần được phát triển theo thời gian, tìm nhiều sẽ có mẹo và cách xử lý thông tin (tacit knowledge). Cách tìm kiếm thông minh là khi ta gõ một (vài) từ khóa vào, rồi dựa vào những gì tìm được lại tiếp tục chọn lọc (refine) để tìm tiếp thay vì chỉ tìm một lần rồi thôi.

(*) Nội dung bài này chủ yếu dành cho những người trong lĩnh vực ngoại ngữ/nghiên cứu ngôn ngữ 2…Mình có ý tưởng từ 4/12/2015, giờ mới viết hoàn chỉnh và chia sẻ.  HNL 04/01/2015

Tạp chí mở (OA)* Ngôn ngữ & giáo dục

Tôi ủng hộ xu hướng & phong trào MỞ (openness), đặc biệt trong hoạt động chia sẻ và kiến tạo tri thức (Open Science). Nguồn tri thức mở (Open Access) không chỉ tăng cường hiệu quả cho quá trình kiến tạo tri thức (cộng tác/kiểm chứng) mà còn góp phần thúc đẩy công bằng xã hội (quyền được biết, được truy cập thông tin cho mọi người). Khi mọi người đều có thể tiếp cận tri thức thì việc hợp tác, cộng tác và chia sẻ sẽ trở lên dễ dàng hơn trên phạm vi một quốc gia, trong khu vực và trên toàn thế giới, đặc biệt đối với các quốc gia đang/kém phát triển. Hiểu biết của con người tăng lên, xã hội sẽ càng văn minh hơn (giả thuyết). Tuy nhiên, không phải thông tin, kiến thức nào cũng có giá trị như nhau và không phải nguồn kiến thức nào cũng đáng tin cậy (kể cả các bài báo khoa học đăng trên tạp chí chuyên ngành uy tín, vì vậy hoạt động khoa học cần công khai, minh bạch như cách làm của Open Science Framework, chưa kể thêm các hoạt động đen tối hoạt động dưới danh nghĩa MỞ như các tạp chí ma.)

Tôi liệt kê những tạp chí trong lĩnh vực nghiên cứu giáo dục ngoại ngữ theo cách phân loại chủ quan: tạp chí chuyên môntạp chí nghiên cứu. Tạp chí chuyên môn (hoặc tạp chí nghề nghiệp) thường là các ấn phẩm của các tổ chức nghề nghiệp giúp những người trong cùng một cộng đồng hành nghiệp (community of practice) chia sẻ với nhau, ở đây chủ yếu là giáo viên, chuyên viên ngoại ngữ (practitioners). Tạp chí nghiên cứu có tính hàn lâm, chủ yếu dành cho những người trong cùng cộng đồng học thuật chia sẻ với nhau, cho nên những người thực hành (practitioners) khó có thể tiếp cận ( vì yêu cầu nhiều kiến thức chuyên biệt/technical knowledge, cũng là sự khác nhau giữa giáo viên và nhà nhiên cứu). Cũng có nhiều tạp chí đăng các bài báo thuộc cả hai nhóm trên, tạm gọi là tạp chí chuyên ngành.

Tuy nhiên cũng lưu ý rằng rất nhiều tạp chí nghiên cứu có ảnh hưởng khác yêu cầu người dùng phải đăng ký & trả phí truy cập (subscribe) qua thư viện của các trường đại học hoặc trả trực tiếp. Đa số tạp chí này có chỉ số tác động và chỉ số xếp hạng được liệt kê trong Google Scholar (một số bài báo có thể được tiếp cận miễn phí qua nhiều kênh khác nhau như Google Scholar, Trang web các nhân của các tác giả…

Để tìm kiếm thêm các tạp chí hoặc bài bài báo miễn phí truy cập, vui lòng sử dụng Thư mục các tạp chí truy cập mở (DOAJ).

IMG_7538

Tạp chí chuyên môn/Professional Journals

English Teaching Forum;

The CATESOL Journal;

Language Education in Asia;

TESL Reporter;

Dialog on Language Instruction;

Applied Language Learning;

The Language Teacher;

Hawaii Pacific University TESOL Working Paper Series

CSCTFL Report;

The NECTFL Review;

English Language Teacher Education and Development (ELTED);

The Electronic Journal for English as a Second Language;

Lingo/the Pacific Northwest Council for Languages (PNCFL);

The Journal of Teaching English with Technology

Tạp chí nghiên cứu/học thuật (Academic Journals)

Language Testing in Asia;

English Profile Journal;

TESLCanadaJournal;

Electronic Journal of Foreign Language Teaching (e-FLT);

JALT Journal;

Reading in Foreign Languages;

Language Learning & Technology;

Studies in Second Language Learning and Teaching

logo  Language acquisition | Psycholinguistics | Word recognition

SAGE Open Education

University of Sydney Papers in TESOL

Working Papers in TESOL & Applied Linguistics

Concordia University Working Papers in Applied Linguistics (COPAL)

Tạp chí học thuật/Mixed Journals

PROFILE Issues in Teachers’ Professional Development;

BELT – Brazilian English Language Teaching Journal;

The New English Teacher;

Language In India;

Journal of Language studies;

Working Papers in Educational Linguistics (WPEL);

Journal of Linguistics and Language Teaching (JLLT);

Taiwan Journal of Linguistics;

Journal of Advances in English Language Teaching;

Apples – Journal of Applied Language Studies

Second Language Studies

*Lưu ý: Nội dung này được đăng tải và cập nhật ở mục “tài nguyên” trong weblog này. Nếu bạn biết tạp chí nào nên được bổ sung thêm vào danh sách này, vui lòng gửi tới phunghuy dot elt at gmail dot com.

Năng lực tiếng Anh của Việt Nam có cải thiện hơn?

Tổ chức giáo dục quốc tế EF (Education First) gần đây mới phát hành báo cáo (thứ 5) về chỉ số năng lực tiếng Anh EF (ngày 03/11/2015) hay còn gọi là EF EPI (EF English Proficiency Index), qua đó báo cáo này xếp loại trình độ tiếng Anh của 70 quốc gia trên thế giới. Đây là hoạt động thường niên của tổ chức EF, bắt đầu từ năm 2011 nhằm đưa ra một chỉ số chung để so sánh năng lực tiếng Anh của các quốc gia trên các khu vực và vùng lãnh thổ. Dữ liệu cho mỗi báo cáo hàng năm là kết quả của các bài thi tiếng Anh của năm trước đó do tổ chức EF triển khai. Báo cáo mới phát hành gần đây dựa trên dữ liệu trong năm 2014 của 910,000 người tham gia hai bài thi (có thể là một trong hai, báo cáo không nói rõ nội dung này): (1) bài thi thứ nhất được triển khai miễn phí cho bất cứ ai quan tâm qua mạng internet tại địa chỉ https://www.efset.org/en; (2) bài thi thứ hai là bài thi xếp lớp (placement test) do tổ chức này sử dụng trong quá trình tuyển sinh/đào tạo. Theo như báo cáo của tổ chức này, hai bài thi bao gồm 4 hợp phần: ngữ pháp, từ vựng, đọc hiểu, nghe hiểu. Những quốc gia nào có hơn 400 người thi trở lên được đưa vào phân tích và báo cáo. Điểm số của mỗi quốc gia là điểm trung bình từ hai bài thi, có trọng số như nhau và điểm số trung bình này sẽ được quy chiếu sang khung tham chiếu châu Âu (CEFR) từ B2-A2  (cụ thể, Very High Proficiency tương ứng B2; High, Moderate, Low proficiency tương ứng B1; và Very Low Proficiency tương ứng A2).

Giao diện chính của trang EF EPI (ảnh chụp màn hình từ trang web của EF)
Giao diện chính của trang EF EPI (ảnh chụp màn hình từ trang web của EF 2015)

Theo báo cáo này, có một vài điểm nhấn mà người đọc có thể sẽ quan tâm, đặc biệt là những người làm chính sách, các nhà giáo dục ngoại ngữ, thầy cô giáo dạy tiếng Anh và cả những người khác (phụ huynh, học sinh, sinh viên):

  • Trình độ tiếng Anh trung bình của người lớn đã tăng một chút so với năm trước, tuy nhiên sự cải thiện này không đồng đều giữa các quốc gia, khu vực và độ tuổi. Nhiều quốc gia không có thay đổi đáng kể, thậm chí còn giảm đi một chút.
  • Nhìn chung, những người ở độ tuổi 18-20 có trình độ tiếng Anh cao hơn cả. Tuy nhiên, xét trên phạm vi toàn cầu, sự khác biệt về khả năng tiếng Anh của những người dưới độ tuổi 30 là rất nhỏ. Xét theo từng quốc gia, câu chuyện lại hoàn toàn khác, với một số quốc gia thể hiện rõ nét về sự khác biệt (về khả năng tiếng Anh) qua các lứa tuổi trong khi những quốc gia khác hầu như không có chút khác biệt nào.
  • Nhìn chung, nữ giới nói tiếng Anh tốt hơn nam giới xét trên phạm vi tất cả các quốc gia trong danh sách, các khu vực được khảo sát và hầu hết mỗi quốc gia. Sự khác biệt về khả năng tiếng Anh theo giới tính thể hiện rõ nhất ở Đông Âu, Trung Đông, và Bắc Phi, nhưng hầu như không xuất hiện ở những quốc gia có trình độ tiếng Anh cao ở Bắc Âu. (Tôi không đồng ý với nhận định thứ nhất của EF vì hai bài thi của họ không có hợp phần nói, nguyên văn: “Women speak English better than men worldwide.” Chúng ta có thể đồng ý rằng khả năng tiếng Anh của nữ giới tốt hơn nam giới mà thôi).
  • Châu Âu vẫn tiếp tục đứng đầu bảng xếp loại, đặc biệt là Bắc Âu và Trung Âu. Vị trí của các quốc gia này cũng ổn định qua 5 năm qua. Tuy nhiên, Pháp không nằm trong những vị trí này với chỉ số năng lực tiếng Anh thấp (low English proficiency)
  • Ở châu Á, trình độ tiếng Anh rất đa dạng với 3 quốc gia ở mức cao (High Proficiency) trong khi một vài quốc gia khác ở mức rất thấp (very low proficiency). Điều này một phần cũng là do châu Á có nhiều quốc gia tham gia hơn cả.
  • Mặc dù có sự thay đổi về thứ hạng hàng năm, nhưng tương quan/mối liên hệ giữa khả năng tiếng Anh với thu nhập, kết nối internet, nghiên cứu khoa học và các chỉ số khác đều rất ổn định qua các năm.

Báo cáo này cũng đưa ra một số chiến lược mà các quốc gia có trình độ tiếng Anh cao đã sử dụng bao gồm:

  • Tách tiếng Anh ra khỏi các ngoại ngữ khác.
  • Tập trung vào kỹ năng giao tiếp thực tế ngay từ đầu.
  • Bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh dạy tiếng Anh giao tiếp.
  • Phát triển các phương pháp đánh giá hiệu quả.
  • Hỗ trợ khối tư nhân trong hoạt động đào tạo. (có phần hơi biased ở điểm này)
  • Đầu tư vào công nghệ và các công cụ học tập trực tuyến.
  • Coi trọng tiếng Anh trong khuôn khổ của các cải cách giáo dục khác.

Câu hỏi đặt ra là, dựa trên báo cáo của EF trong 5 năm qua, khả năng tiếng Anh của Việt Nam có cải thiện hơn? Báo cáo năm nay xếp Việt Nam ở vị trí 29 trong tổng số 70 quốc gia về trình độ tiếng Anh, và vị trí 5 trong 16 quốc gia ở châu Á. So với bảng xếp loại từ những năm trước, thì vị trí của Việt Nam so với các quốc gia khác cũng được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, cũng lưu ý rằng số lượng quốc gia tham gia theo mỗi năm là không giống nhau, do vậy nếu chỉ dựa vào kết quả xếp loại để đánh giá mức độ cải thiện khả năng tiếng Anh của Việt Nam thì chưa hợp lý.

Bảng xếp loại trình độ tiếng Anh của Việt Nam theo các năm
Bảng xếp loại trình độ tiếng Anh của Việt Nam theo các năm 2001-2015 (chính xác là 2010-2014)/Ảnh chụp màn hình của EF EPI 2015

Lần theo báo cáo từ các năm trước, chúng ta có thể sử dụng điểm trung bình theo từng năm để một phần nhận định được về khả năng tiếng Anh của Việt Nam.  Theo đó, theo báo cáo phát hành năm 2011, điểm số trung bình của Việt Nam là 44.32, tương ứng với mức độ rất thấp (very low, A2) theo cách phân loại của chỉ số EF EPI. Theo báo cáo năm 2012, điểm số cải thiện đáng kể, tăng 7.82 so với năm 2011. Điểm số này nhỉnh hơn một chút theo báo cáo năm 2013 và đưa Việt Nam vào cấp độ vừa phải (moderate, B1) trong khung năng lực ngôn ngữ. Tuy nhiên, báo cáo năm 2014 cho thấy điểm trung bình của Việt Nam lại giảm đi một chút (giảm 0.57 so với 2012 và 0.7 so với 2013). Và trong báo cáo mới nhất (2015) thì điểm số này đã tăng lên tương đối (53.81). Dựa vào điểm trung bình qua các năm cho thấy, khả năng tiếng Anh của Việt Nam cũng có cải thiện một chút và có chiều hướng đi lên.

Điểm số trung bình của Việt Nam qua hai bài thi do EF triển khai từ 2010-2014
Điểm số trung bình của Việt Nam qua hai bài thi do EF triển khai từ 2010-2014/Số liệu từ báo cáo của EF theo các năm

Đặc biệt, khi tìm hiểu kỹ hơn về mức độ khác biệt giữa các vùng miền ở Việt Nam thì báo cáo năm 2015 cho thấy đã có sử cải thiện rõ rệt của các khu vực phía Bắc. Nếu như các năm trước đây, chỉ có TP. Hồ Chí Minh đạt mức vừa phải (moderate) trong cấp độ phân loại của EF EPI thì năm 2015 khu vực Đông Nam Bộ và châu thổ Sông Hồng đã thấy sự cải thiện đáng kể, thậm chí khu vực Đông Nam Bộ còn có điểm số cao hơn khu vựng đồng bằng Sông Hồng (55.39 và 53.23).

Trình độ tiếng Anh của Việt Nam theo khu vực
Trình độ tiếng Anh của Việt Nam theo khu vực/Ảnh chụp màn hình của EF EPI năm 2015

Như vậy, dựa theo dữ liệu và báo cáo của tổ chức giáo dục quốc tế EF, chúng ta có thể thấy khả năng tiếng Anh của Việt Nam thể hiện qua hai bài thi của EF từ những người tham gia qua các năm đã có sự cải thiện một chút. Mặc dù kết quả này còn rất khiêm tốn, nhưng đó cũng là một dấu hiệu lạc quan. Thật khó có thể kết luận đâu là tác động chính cho sự cải thiện này, nhưng chúng ta cũng cần xem xét tới những nỗ lực của Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020 trong những năm vừa qua. Mặc dù EF không đưa yếu tố chính sách quốc gia trực tiếp vào báo cáo của họ trong kết luận, nhưng ở bối cảnh Việt Nam, điều này cũng nên được nhắc tới.

Tuy nhiên, có rất nhiều điều cần thảo luận thêm về bản báo cáo này, đặc biệt là mức độ đại diện của các quốc gia có trong danh sách và mức độ tin cậy/hợp lý của các bài thi mà EF sử dụng. Như EF đã thừa nhận trong bản báo cáo: “Chúng tôi công nhận rằng những người tham gia làm bài thi đưa vào trong chỉ số này là tự chọn và không đảm bảo được mức độ khái quát (đại diện) cho cả một quốc gia. Chỉ có những người muốn học tiếng Anh hoặc muốn biết về khả năng tiếng Anh sẽ tham gia một trong những bài thi này. Điều này làm cho điểm số có sự thiên lệch, hoặc cao hơn, hoặc thấp hơn so với dân số chung.” (Nguyên văn: “We recognize that the test-taking population represented in this index is self-selected and not guaranteed to be representative of the country as a whole. Only those people either wanting to learn English or curious about their English skills will participate in one of these tests. This could skew scores lower or higher than those of the general population.”  Như vậy, mặc dù bài báo cáo nói tới trình độ/năng lực tiếng Anh của một quốc gia, nhưng thật khó có thể kết luận được rằng nó thể hiện mặt bằng chung của mỗi quốc gia được nhắc tới. Trong bài viết này, tôi vẫn sử dụng danh từ chung “Việt Nam” để mô tả, tuy nhiên, việc diễn giải cần được xem xét ở mức độ hẹp qua những người tham gia (và tôi không có số liệu). Tương tự như vậy, bản báo cáo cũng chỉ ra hạn chế của bài thi trực tuyến, qua đó chỉ những người kết nối mạng mới có thể tham gia làm bài thi, như vậy những người không (quen) dùng hoặc không có điều kiện truy cập mạng internet sẽ bị loại ra. Ý này củng cố cho ý trước nhằm nhấn mạnh rằng kết quả từ các bài thi và dữ liệu được sử dụng trong báo cáo không thể khái quát cho cả một quốc gia.

Báo cáo này nói về chỉ số năng lực tiếng Anh (English Proficiency), tuy nhiên định nghĩa thế nào là năng lực tiếng Anh (proficiency) thì chưa được làm rõ. Báo cáo chỉ nhắc tới 4 hợp phần trong hai bài thi: ngữ pháp, từ vựng, đọc hiểu và nghe hiểu. Đối với bài thi xếp lớp, tôi không tiếp cận được, nhưng bài thi trực tuyến thì chỉ gồm hai phần: nghe và đọc yêu cầu người thi hoàn thành trong khoảng 15 phút (EFSET Express). Lưu ý rằng đây là bài thi ngắn nhất, họ cũng có những bài thi dài hơn bao gồm bài thi 50 phút (EFSET) và bài thi 120 phút (EFSET Plus). Tuy nhiên, trong báo cáo họ không nói rõ là kết quả được sử dụng từ những bài thi nào. Quay trở lại định nghĩa năng lực tiếng Anh (proficiency), trong báo báo nhiều thuật ngữ tương tự được sử dụng như ability, skills, (cũng như trình độ, khả năng…trong bài viết của tôi), tôi cho rằng, chúng ta chỉ có thể giới hạn những thuật ngữ này qua phạm vi bài thi họ sử dụng (ngữ, pháp, đọc, nghe…không có nói và viết). Mức độ tin cậy và hợp lý (reliability & validity) của các bài thi EF cũng được đề cập tới trong báo cáo nghiên cứu của tổ chức này (phát hành 09/2014) và mức độ tương quan với các bài thi TOEFL hoặc IELTS cũng cần được xem xét.

Cuối cùng, mặc dù bản báo cáo (và tóm tắt báo cáo) đưa ra nhiều thông điệp (như: Better English, Higher Income/Tiếng Anh tốt, thu nhập cao) và các chỉ số tương quan (phần insights trong trang web) giữa chỉ số năng lực tiếng Anh với kinh tế & chất lượng cuộc sốngtiếng Anh và đổi mớitiếng Anh và mức độ kết nối mạng, mức độ tương quan đều ở mức vừa phải (0,5-6,9) và quan trọng là đây chỉ là mối liên hệ chứ không phải tiếng Anh là nguyên nhân. Do vậy chúng ta không biết được rằng do thu nhập tốt hơn vì thế khả năng tiếng Anh được cải thiện hay do tiếng Anh được cải thiện dẫn tới thu nhập cao hơn (hoặc tương tác hai chiều, biện chứng :))

Mức độ tương quan giữa trình độ tiếng Anh và các chỉ số khác
Mức độ tương quan giữa trình độ tiếng Anh và các chỉ số khác

 

Tương quan giữa chỉ số năng lực tiếng Anh và thu nhập (ảnh chụp màn hình)
Tương quan giữa chỉ số năng lực tiếng Anh và thu nhập (ảnh chụp màn hình)

—————————-

Báo cáo theo các năm có thể được tải về tại địa chỉ: http://www.ef.edu/epi/downloads; Tìm hiểu kỹ hơn về phương pháp xây dựng chỉ số qua mục giới thiệu: http://www.ef.edu/epi/about-epi

Chỉ số năng lực tiếng Anh của EF sẽ đáng tin cậy hơn nếu như họ công khai dữ liệu giống như các chỉ số khác như PISA của OECD hay The Learning Curve của Pearson.