Ma trận & Zombie

Hay nói đúng hơn chính là ma trận và những con thây ma!

Chúng ta đã có cả hai ngay ở đây và tại thời điểm này!

Liệu có còn hư cấu?

Hầu hết rất nhiều người trong số chúng ta ít nhiều cũng đã xem hoặc biết tới bộ phim ma trận (1999) mô tả cuộc sống con người bị những người máy nổi loạn khống chế, sự sống của con người theo đó  thực chất chỉ là một môi trường giả lập của một hệ máy tính khổng lồ.

Chúng ta cũng khá quen thuộc với hình ảnh của những con thây ma qua những bộ phim của Hollywood như “World War Z” (Chiến tranh thế giới thây ma),“The Walking Dead” (Xác sống) hoặc “Night of the Living Dead” (Đêm của những thây ma sống). Thây ma theo đó được mô tả là những xác chết hồi sinh di chuyển chậm chạm, dật dờ nhưng không có linh hồn. Chúng đi tìm những người còn sống để ăn thịt hoặc để biến họ thành thây ma.

Chúng ta cũng đều biết tất cả những điều này chỉ là viễn tưởng hoặc hư cấu. Trong trường hợp ma trận thì hoàn toàn đó là những điều viễn tưởng về tương lai tận những năm 2199, trong trường hợp zombie thì thì hoàn toàn hư cấu. Nhưng giữa thực và ảo đâu còn giới hạn khi công nghệ phát triển tới mức gần như giả lập được mọi thứ trên máy tính và chính con người cũng không phân biệt được thế giới thực và thế giới ảo cơ mà. Thậm chí họ còn đang khuyến khích cho hai thế giới hợp vào với nhau đó thôi. Vậy thì, ma trận và zombie không chỉ là hư cấu hoặc viễn tưởng nữa, chúng đã ở ngay đây, tại thời điểm này. Chỉ đơn giản chúng ta chưa nhận ra mà thôi. Cũng giống như con cá làm sao biết được chúng đang ở trong nước. Tôi muốn nói tới mạng xã hội giống như một ma trận và rất nhiều người dùng đang hành xử như những con zombie.

Đúng vậy, chúng ta đang ở trong ma trận của các mạng xã hội, và đương nhiên Facebook là ma trận hùng vĩ nhất, phức tạp nhất và cũng trên FB chúng ta tìm thấy nhiều zombie nhất. Nói về ma trận, thì những lo ngại về việc bị virus tấn công vào các máy tính, máy chủ, lấy thông tin bởi các hacker nay chỉ là thứ yếu, mà điều quan ngại hơn chính là công nghệ hiện đại đã có khả năng ‘hack’ vào tận tâm trí người dùng. Nếu như trước đây chúng ta lo sợ máy tính bị virus tấn công, làm mất dữ liệu hoặc các hackers bẻ khoá, lấy cắp thông tin quan trọng như tài khoản ngân hàng thì giờ đây điều cần chú ý hơn là công nghệ đã có thể len sâu vào tận não bộ của con người, kiểm soát, ảnh hưởng những gì chúng nghĩ, những gì chúng ta muốn và thay đổi cả thói quen, hành vi của chúng ta nữa. Chỉ cần chiêm nghiệm một chút để so sánh thói quen của chúng ta đã thay đổi như thế nào từ khi có điện thoại thông minh và mạng xã hội, cũng như hệ thống thông báo tức thì đến từ các ứng dụng trên điện thoại được kết nối. FB và một số ứng dụng hoặc thiết bị điện tử đã làm được việc giống như sự ra đời của kem đánh răng trước đây. Thói quen của chúng ta đã thay đổi.

Còn zombie thì sao? Có hai cách chúng ta có thể quan sát được. Cách thứ nhất là việc nhiều người ‘chăm chú’ vào chiếc điện thoại ngay khi họ đang đi bộ. Việc này gây ra nhiều hệ luỵ không tưởng và người ta đã phải đặt tên cho nó: thây ma điện thoại (smartphone zombie). Có vẻ nhưng chiếc điện thoại thông minh mới là chủ nhân điều khiển những con thây ma này vậy. Tâm trí của họ đã bị điều khiển bởi những nguồn thông tin khác nhau mà chiếc điện thoại họ mang tới, phần nhiều là từ các mạng xã hội.

Cách thứ hai là việc quan sát những nhóm người trên FB mổ xẻ, phê phán, ném đá hội đồng một hiện tượng hay một cá nhân nào đó thì chúng ta có thể thấy những điều hư cấu đang trở thành hiện thực như thế nào. Hãy hình dung một nhóm zombie đang dật dờ lang thang khắp chốn, bỗng nhiên một vài con thấy một con người, thế là cũng lao vào cắn xé, ban đầu chỉ một vài con, dần dần cả một bầy đàn kéo đến xâu xé xong rồi lại tản ra, tiếp tục lang thang dật dờ khắp chốn cho tới khi một con nào đó lại thấy một cái gì đó giống người hoặc là một con người, chúng lại xôn xao lao vào xâu xé, có lúc hả hê, có lúc tức giận. Nhưng dù sao chúng vẫn cứ dật dờ như vậy. Những con zombie thời nay đang sống trong các mạng xã hội, họ dành hàng giờ trên các trang mạng xã hội, trước khi đi ngủ hay mỗi khi thức dậy thì việc cuối cùng hoặc đầu tiên họ làm là xem các thiết bị điện tử, họ gạt lên gạt xuống xem có gì thú vị hay không. Họ được kết nối với nhau bởi những thuật toán của mạng xã hội. Cái gì được nhiều người thích hay nhấn chuột thì càng nổi, và khi đã nổi thì thuật toán lại càng cho phép chúng xuất hiện nhiều hơn, vì thế lại tới gần những người dùng khác hơn bất kể nội dung ra sao, xấu hay tốt. Cũng chính vì thế mà ít khi có thời kì nào mà nhiều người lại dùng tai tiếng để nổi danh đến vậy.

Ma trận và zombie chỉ là những điều hư cấu, nhưng phần nào những điều hư cấu ấy cũng gợi mở cho chúng ta cách quan sát, chiêm nghiệm về thế giới thực tại.

 

Advertisements

Liệu Facebook có thoái trào?

Facebook (FB) đang ở đỉnh cao với hơn 2 tỉ người dùng hiện nay và con số này vẫn không ngừng tăng lên, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển. Xu hướng này vẫn còn tiếp tục và có vẻ như nó chưa dừng lại, đặc biệt khi Mark Zuckerberg còn thực hiện chương trình từ thiện miễn phí internet ở các khu vực Phi châu. Có lẽ ông chủ FB cũng thấy được viễn cảnh thoái trào trong mỗi vòng đời công nghệ nên đã có những bước ‘chạy tắt đón đầu’ chăng? Đó chỉ là giả thuyết và chúng ta thực sự không biết Mark và các nhà đầu tư cùng với ông đang nghĩ gì, nhưng xu hướng thoái trào dường như có vẻ tất yếu. Đơn cử một ví dụ, Friendster, một mạng xã hội ra đời trước FB hai năm (dù ít ai biết đến vì báo chí vẫn ca ngợi Mark như một thiên tài, sáng tạo ra FB từ con số không), nhưng khi FB ra đời sau nhưng kế thừa tốt hơn, phát triển mạnh hơn và đã ‘nuốt chửng’ luôn Friendster sau đó (qua thương vụ mua lại Friendster, dù trước đó Friendster có thương vụ mua FB khi FB còn ở giai đoạn startup nhưng không thành). Friendster dần mất thị phần ở phương Tây, nhưng vẫn sống sót tốt các thời gian sau đó ở khu vực châu Á và đặt trụ sở ở Malaysia. Nhưng Friendster chỉ là ‘tép riu’ với lượng người dùng tính bằng triệu còn FB lượng người dùng tính bằng tỉ. Thậm chí những ông lớn như Google cho ra đời các mạng xã hội như việc mua lại và phát triển Orkut, rồi sau Google+, nhưng sức cạnh tranh dường như không hề hấn gì với FB khi quy mô của FB đã quá lớn và quy luật ‘người chiến thắng dành lấy tất cả’ có vẻ đúng trong bối cảnh này. Câu hỏi đặt ra là liệu FB có thoái trào? Có trở thành dĩ vãng giống như MySpace vang danh một thời? Thật khó có thể dự đoán chính xác được khi nào FB sẽ thoái trào và tốc độ thoái trào sẽ ra sao. Nhưng rất có thể một khi thoái trào thì chúng diễn ra rất nhanh, trên quy mô rất rộng. Một vài quan sát và chiêm nghiệm tôi viết lưu lại đây và 2020 sẽ nhìn lại xem thế nào.

Xu hướng đầu tiên và cũng có lẽ là xu hướng bao trùm cho các lý do khác đề cập tiếp theo chính là sự mệt mỏi khi tham gia mạng xã hội, còn gọi là social media burnout hoặc digital fatigue. Tính mới mẻ, khả năng kết nối sâu rộng, và sự tưởng thưởng nhanh chóng mạng xã hội đem lại thúc đẩy nhiều người tham gia và đóng góp tích cực cho cộng đồng số. Tuy nhiên, khả năng xử lý và hấp thụ thông tin của con người có hạn nên việc quá tải thông tin là điều không thể tránh khỏi. Nói một cách ví von như trong cuốn sách ‘Tâm trí xao lãng’/’The Distracted Mind’ thì não bộ của con người tiến hoá không đủ nhanh để bắt kịp với tốc độ phát triển theo hàm số mũ của thông tin. Não bộ được thiết kế để thích ứng với khả năng sinh tồn trong môi người tự nhiên, nhưng khi vào môi trường số, nó bị choáng ngợp bởi vô vàn thông tin đòi hỏi khả năng lưu trữ và xử lý mau lẹ. Đương nhiên, não bộ của một người không thể nào xử lý dạng thông tin số nhanh như một chiếc máy tính hoặc một hệ máy chủ được. Chính vì thế mà sau một thời gian, sự mệt mỏi, căng thẳng sẽ là hệ quả tất yếu và cách nhanh nhất là thoát ra khỏi môi trường số đó một thời gian. Ralph Waldo Emerson từng nói: “Có rất nhiều điều mà một người khôn ngoan ước gì họ không biết” và điều này cũng đúng với mạng xã hội. Xu hướng người dùng giảm dần các hoạt động trên mạng xã hội sau một thời gian sử dụng cũng được tổ chức Gartner chuyên về phân tích & dự báo xu hướng đưa ra vào năm 2011. Hiện tượng này cũng bắt đầu được các nhà nghiên cứu quan tâm trong vài năm trở lại đây. FB là một trong những nhà cung cấp nền tảng mạng xã hội hàng đầu với lượng người dùng lớn thì chắc chắn họ cũng không nằm ngoài sự vận động này.

Một xu hướng khác cũng có thể làm cho FB thoái trào chính là việc ra đời của những ứng dụng phù hợp hơn. Một ứng dụng nổi bật chính là WhatsApp ra đời muộn hơi FB nhưng khả năng thu hút lượng người dùng lớn trong một thời gian ngắn cũng rất ấn tượng. Có lẽ Whatsapp phần nào giải toả những quan ngại về tính riêng tư cho người dùng nên vì thế được ưa chuộng hơn. Lượng người dùng của Whatsapp cũng được tính bằng con số hàng tỉ. Mặc dù FB vẫn không ngừng chinh phạt những ứng dụng sinh sau đẻ muộn nhưng có nguy cơ đe doạ khả năng bá quyền của FB bằng các thương vụ mua lại, sát nhập, tích hợp hoặc trừ khử trước khi chúng gây hoạ, ngày càng có những ứng dụng thay thế trên cơ sở nắm bắt tâm lý người dùng, chẳng hạn như những quan ngại về bảo mật, tính riêng tư hay xu hướng quá tải…Những ứng dụng như Blind cũng ra đời với những tính năng và điểm nhấn khác biệt hơn, dù có thể không cạnh tranh trực tiếp với FB, nhưng rõ ràng cũng cạnh tranh về thời gian, nguồn lực người dùng dành cho những ứng dụng khác nhau.

Trí tuệ nhân tạo, học máy (machine learning) có thể đem lại cho FB sự ưu việt và mở ra những cơ hội mới nhưng cũng có thể là một trong những tác nhân làm cho FB thoái trào, giống như con dao hai lưỡi hoặc gậy ông đập lưng ông vậy. Tại sao lại như vậy? Cốt lõi là ở vấn đề người dùng. Không có người dùng thì sẽ không có FB. Những ứng dụng trí tuệ nhân tạo làm cho FB có khả năng lọc tốt hơn, cung cấp những thông tin mà người dùng hay xem qua những thuật toán của học máy. Bên cạnh đó thì FB cũng đăng các quảng cáo sát hơn tới người dùng. Nhưng mặt trái của những ứng dụng này là chúng hoạt động một cách máy móc dù vẫn được gọi là rất thông minh. Những thông tin người dùng muốn xem, thích xem không hoàn toàn giống với những thông tin mà họ hay xem. Một động thái ‘like’ cũng có rất nhiều ý nghĩa mà cơ chế hay thuật toán của trí tuệ nhân tạo không thể nắm bắt được. Một ví dụ đơn giản như việc người dùng A thích chó thông qua việc liệt kê sở thích khi FB hỏi, đăng ảnh hoặc các bài viết về chó hay tham gia các nhóm liên quan tới chó. Vì thế mà ưu tiên các thuật toán của FB dành cho người dùng A cũng ‘toàn chó’ mà đâu biết rằng A không chỉ thích chó, mà còn quan tâm tới nhiều thứ khác nữa vì đơn giản A là người chứ không phải máy. Sự hữu ích của các thông tin ban đầu có liên quan lâu dần sẽ trở thành sự nhàm chán, lặp đi lặp lại về sau. Trong khi đó con người cần sự đa dạng, linh hoạt theo tính chất tự nhiên chứ không phải một cách máy móc. Bên cạnh sự kỷ luật, nguyên tắc, các kế hoạch thì con người cũng cần sự phá cách, tự nhiên, bộc phát (spontaneous), và không nắm bắt được (unpredictable). Sự tiện lợi ban đầu sẽ trở thành sự gò bó về sau. Vậy nên, đôi khi phản tác dụng về lâu dài.

Những thay đổi về luật và thông tin từ các chính phủ, các hiệp hội khi ban hành cũng phần nào tác động tới FB. Chẳng hạn chính phủ một số nước như Việt Nam, Đài Loan yêu cầu FB phải hợp tác với họ qua việc việc đặt máy chủ tại địa phương hoặc đóng thuế theo quy định. Một ví dụ khác là chính phủ Đức ban hành luật phạt FB và các mạng xã hội nếu đăng các bài viết thù địch, chia rẽ. Một xu hướng khác là việc bãi bỏ luật về Net Neutrality ở Mỹ hiện nay đang gây nhiều tranh cãi qua đó các nhà mạng sẽ có thể thoả hiệp dòng chảy của dữ liệu không chỉ ở người dùng cá nhân mà còn cả các ông lớn như Google hay FB. Những điều này một mặt sẽ ảnh hưởng tới mô hình kinh doanh của FB hiện tại, một mặt khác cũng có những điều chỉnh có thể ảnh hưởng theo nhiều cách khác nhau mà nguy cơ tác động tới mức độ phổ biến của FB tại các địa phương. Chẳng hạn một ngày tới đây, việc truy cập FB ngày càng chậm hơn, thông tin đứt gãy do các nhà mạng quản lý lượng dữ liệu của FB tới người dùng hoặc ưu tiên quyền truy cập các trang khác mà họ trả nhiều tiền hơn. Cũng đơn giản là vì người dùng báo báo những thông tin rác, tin sai sự thật mà các nhà mạng cũng có thể kiểm soát việc này. Tin giả, tin rác tràn lan mà các thuật toán của FB vẫn chưa giải quyết triệt để được.

Chiến lược tiếp thị, truyền thông cũng ngày dần thay đổi. Từ việc chia sẻ đời tư tràn lan như một bệnh dịch thì nay người cách tiếp cận tốt hơn là bảo mật thông tin để tạo ra sự khan hiếm, đánh vào thói quen của người dùng khi muốn đào xới tất cả thông tin của 1 ai đó họ quan tâm. Thay vào đó, kiểm soát thông tin chính là kiểm soát hành vi của người dùng, tạo ra các thuyết âm mưu, các suy nghĩ viễn hoặc, lấy gậy ông đập lưng ông, lấy chính những người dùng mê muội đồn thổi, dự đoán, thánh hóa các vấn đề làm cho nói nổi cộm và càng trở lên phổ biến hơn. Poppy là một ví dụ điển hình cho xu thế này. Bắt đầu với những video rất ngắn và dị trên Youtube [bạn nên xem trước khi đọc tiếp My Life is Boring], Poppy làm cho người xem khó phân biệt được đâu là người thật, đâu là robot. Kết hợp với sự thổi phồng của giới cuồng công nghệ về trí tuệ nhân tạo và các bộ phim viễn tưởng, người thật diễn như máy làm người ta tưởng máy móc giống như người. Thế rồi các thuyết âm mưu nổi lên, các nhà thám tử tân tự do bắt đầu quá trình lùng sục xem Poppy là ai. Nhưng toàn bộ các thông tin về Poppy được xoá sạch trên mạng. Họ đồn thổi cô ấy là người máy, được hội kín Tam Điểm đưa ra để cứu thế giới. Bên cạnh đó là các chiêu trò truyền thông phỏng vấn Poppy và để Poppy trả lời như một con robot. Sự cuồng tín tăng lên tới mức có một giáo phái cho xu hướng này. Đó là xu hướng đả phá sự vi lạm tính riêng tư, đả phá tính giả rối, hời hợt trên các mạng xã hội. Và người ta đón nhận Poppy như một đấng cứu thế. Nó phản ánh rất nhiều thứ về xã hội và con người hiện tại. Nhưng để hiểu được điều này thì mỗi người nên tự mình khám phá. Xong rồi đọc bài phân tích sâu trên trang WIRED sẽ có cái nhìn bao quát hơn. Điều này có nghĩa là gì? Người dùng mệt mỏi và bất an với FB, dã đám là xu hướng tất yếu. Các nhà truyền thông có cần FB về lâu dài?

Bên cạnh sự mệt mỏi từ việc quá tải thông tin do công nghệ đem lại, người dùng cũng mệt mỏi vì chất lượng thông tin đăng tải từ những người dùng với nhau, do đó phần nào xói mòn sự gắn kết có tính chất xã hội. Như đã đề cập bên trên, người dùng mới là yếu tố then chốt, chứ không phải công nghệ. FB làm mọi cách để người dùng kết nối với nhau và thậm chí còn thông qua sứ mệnh rằng FB giúp xây dựng các cộng đồng. Tuy nhiên, trên thực tế, những gì diễn ra là việc đề cao bản ngã, tính vị kỷ, thói thiên kiến tràn lan trên FB. Một phần là bản chất của con người, một phần là FB cung cấp nền tảng như chất xúc tác để những xu hướng đó đến cao trào. Một bài viết của Tim Urban trên trang waitbutwhy từ năm 2013 mô tả hiện tượng này rất rõ. Tác giả đưa ra 5 động cơ chính người dùng đăng bài mà làm cho người khác khó chịu (hoặc không thể chịu được/insufferable) chính là: tạo dựng hình ảnh (Image Crafting), vị kỷ (Narcissism), tìm kiếm sự chú ý (Attention Craving), khoe mẽ (Jealousy Inducing), và cô đơn (Loneliness). Mỗi khi đăng một bài viết, một dòng trạng thái, hay một bức ảnh, người dùng trau chuốt, lựa chọn ngôn từ, chỉnh sửa hình ảnh nhằm ảnh hưởng cách người khác nhìn về họ; nhiều người dùng cũng chia sẻ những trích dẫn hay triết thuyết…để thể hiện cái họ quan tâm mới đáng bàn luận, chiêm nghiệm. Rồi họ cũng muốn sự chú ý của người khác, họ sợ bị lãng quên; rồi họ khoe mẽ nhằm thể hiện sự vượt trội hoặc tâm thế bề trên (superiority) với bạn bè của họ; hoặc đơn giản là sự cô đơn đang gặm nhấm họ, họ không làm gì được ngoài việc gạt đi gạt lại những dòng tin tức. Những nhu cầu này nên được chiêm nghiệm và quan sát ở cấp độ tiềm thức con người, không hẳn ở góc độ ý thức vì nếu hỏi ai đó vì sao họ đăng cái này cái kia, đương nhiên họ có lý do rất thuyết phục và nói rằng không vì bản thân họ. Nhưng suy cho cùng, mấy ai không yêu chính bản thân mình! Và khi ai cũng yêu bản thân mình, quan tâm đến bản thân mình thì hỏi rằng liệu còn ai muốn hoặc có thể kết nối với người khác. Đó mới là ở cấp độ trang cá nhân. Ở các nhóm hoặc các trang cũng tương tự vậy thôi. Giao tiếp trên nền tảng số khác với giao thiệp trực tiếp. Hệ luỵ của tương tác số là những hiểu lầm, nghi kị, mâu thuẫn lợi ích trên đầy các nhóm. Theo thời gian, sự gắn kết có tính xã hội sẽ giảm dần và người dùng sẽ thoái lui hoặc lựa chọn những ứng dụng phù hợp hơn. Vấn đề không phải ở FB, mà các kết nối trên đó. Khi các kết nối không tốt thì nền tảng đó dù ưu việt cũng không cứu vãn nổi. Đó là những lý do khách quan.  Thực tế là FB đã giống như chất keo dính các mối quan hệ, nếu các mối quan hệ đó vì lý do gì mà rạn nứt thì keo tốt mấy cũng không gắn nổi.

FB có nhanh thoái trào và tốc độ thoái trào có nhanh hay không còn phụ thuộc vào mức độ cộng hưởng của các lý do đã nêu trên. Trên thực tế thì FB vẫn không ngừng làm mới họ, vẫn cố gắng xây dựng các thuật toán để giữ chân người dùng bằng các cách tăng liều dopamine để thao túng người dùng bằng mọi cách. Dù thế nào đi nữa, thì sự thoái trào vẫn sẽ diễn ra hoặc ít nhất dịch chuyển từ khu vực này sang khu vực khác. Đầu năm 2018 tôi viết để tự mình chiêm nghiệm và đánh giá lại chiêm nghiệm của mình trong những năm tiếp theo.

 

Chuyện dạy-học 4.0 (Phần 1)

Kỳ học mùa thu năm trước  (2016), tôi dạy lớp tiếng Anh học thuật, tập trung vào kỹ năng khẩu ngữ cho một nhóm sinh viên quốc tế, rất nhiều trong số họ là học viên cao học hoặc nghiên cứu sinh ở các lĩnh vực khác nhau. Họ rất chuyên sâu về lĩnh vực của mình, nhưng vì yêu cầu chung của nhà trường, họ cần theo học các lớp tiếng Anh học thuật để chuẩn bị tốt hơn cho các lớp học chuyên ngành (dù điều này có thể đúng, có thể không đúng).

Lớp tôi có khoảng hai chục người, đến từ rất nhiều quốc gia khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Một số khác đến từ Tây Ban Nha và một số là sinh viên trao đổi đến từ Châu Âu. Vì là lớp tiếng Anh học thuật, nên nội dung chính tập trung vào kỹ năng ghi chép, kỹ năng thuyết trình và thảo luận nhóm. Thách thức lớn nhất mà tôi cũng như những giáo viên khác gặp phải là sinh viên trong lớp có những nhu cầu khác nhau, có người đang học đại học, có người lại là học viên cao học, những người khác thì là sinh viên trao đổi hoặc học giả viếng thăm từ các nước khác. Để thoả mãn những yêu cầu có tính chuyên ngành cụ thể sẽ không khả thi, nên chúng tôi chỉ tập trung vào kỹ năng chung chung, trong đó có dạng bài trình bày biện luận, một kiểu bài mà người học phải đưa ra nhận định, quan điểm và dùng các lập luận, các dẫn chứng để bảo vệ  hoặc bác bỏ một quan điểm nào đó. Ngay từ đầu cả lớp đã thống nhất với nhau là không có nhận định nào là chân lý cả, mà chỉ có những nhận định được lập luận chặt chẽ hơn, có dẫn cứ tốt hơn. Vậy nên, bài trình bày cuối kỳ, mỗi sinh viên phải chuẩn bị một bài thuyết trình độc lập về một nội dung liên quan tới chuyên ngành của họ, nhưng lại phải được diễn giải cho những người bình thường có thể hiểu được.

Có rất nhiều chủ đề hay, nhiều nội dung thú vị. Nhưng đáng chú ý là hai bài trình bày của hai học viên cùng đến từ Hàn Quốc với lập luận hoàn toàn khác nhau về nội dung cơ hội việc làm và sự phát triển của công nghệ. Một người đang theo học ngành khoa học máy tính (A), người còn lại thì chuyên về khoa học chính trị (B). A thì cho rằng, công nghệ đang dần thay thế con người, đảm nhận được nhiều việc mà chúng ta không tưởng trước đây, và trong tương lai còn thay thế nhiều việc hơn nữa, nguy cơ gây ra nạn thất nghiệp trên diện rộng, đặc biệt khi ‘dữ liệu lớn’ được khai thác và trí tuệ nhân tạo ngày càng được nâng cấp. Dẫn chứng A đưa ra gồm rất nhiều câu chuyện đã được báo chí đưa ra trước đó, nào là trí tuệ nhân tạo có thể viết báo, nào là họ làm được này được kia….B thì lại đưa ra một bức tranh khác, lập luận rằng công nghệ thay đổi thì con người cũng thay đổi theo và thích ứng với nó và nguy cơ thất nghiệp không khủng khiếp như những dự đoán đựợc đưa ra mỗi khi công nghệ mới xuất hiện. B đưa ra một biểu đồ về sự tương quan giữa công nghệ và việc làm qua vài thế kỷ và cũng nhấn mạnh rằng việc phóng đại, nhận định quá lố đã từng tồn tại từ vài thế kỷ trước, chẳng hạn như khi máy hơi nước ra đời hoặc ô tô thay cho sức ngựa kéo, nạn thất nghiệp đã có thể vô cùng trầm trọng. Nhưng thực tế thì không hẳn như vậy, mọi việc vẫn diễn ra bình thường theo quy luật của nó. Những nhận định quá lố, một phần là phóng đại, quá khích, một phần là chiêu trò của truyền thông, một phần là công cụ, là diễn ngôn của chính trị gia để đạt được một mục đích nào đó, và phần còn lại là sự cả tin của phần nhiều những người không biết về những gì mình đang nói.

Vài sinh viên khác cũng nói về chủ đề này. Có vẻ như báo chí và mạng xã hội cũng không bỏ sót ai trong cuộc cạnh tranh về cung cấp thông tin và cố gắng ảnh hưởng xã hội bằng thông tin cho dù nó có xác thực hay không. Tôi thiên về quan điểm của B nhiều hơn vì những dẫn chứng B đưa ra trong bài trình bày và kinh nghiệm thực tế cũng cho biết đa phần những gì công nghệ có thể đem lại nhiều khi được phóng đại hơn là thực tế. Thêm vào đó, dù không thể phủ nhận vai trò của dữ liệu, nhưng thực tế không phải tất cả dữ liệu đều có giá trị như nhau, nói tới ‘dữ liệu lớn’ thì cũng cần đặt câu hỏi dữ liệu đó ở đâu ra. Người ta vẫn nói “rác vào, rác ra” trong phân tích đó thôi (garbage in, garbage out). Đôi khi nhiều chưa hẳn đã tốt (dù rất nhiều thì lúc đó lại là câu chuyện khác). Ở một chừng mực nào đó, rất nhiều công việc trước đây sẽ bị thay thế và rất nhiều công việc mới sẽ ra đời. Hiện tượng này diễn ra như một tất yếu của sự phát triển và những nan đề còn đọng lại thì vẫn chưa thấy công nghệ nào hay mô hình nào giải quyết thoả đáng qua từng thế kỷ, cụ thể là mối quan hệ của con người với nhau, giữa các cộng đồng, quốc gia với nhau, sự phân hoá giàu nghèo, sự chênh lệch về cơ hội tiếp cận, …

Dù chẳng phải chuyên ngành của tôi, nhưng tôi cũng phải tự tìm hiểu về những gì đang diễn ra để tránh tình trạng ‘tám cũng ừ, tư cũng gật’. Trên mạng có rất nhiều khoá học, nhiều bài viết chi tiết, nhiều cuốn sách bao quát về chủ đề này, được viết bởi những người trong ngành, nhưng càng theo dõi những gì được thảo luận, được chia sẻ mới biết càng ngày con người ta càng vội, họ chia sẻ thông tin và nhận định, đánh giá với tốc độ nhanh và nhiều như những định luật Moore dự đoán về sự phát triển của transitor vậy. Người ta có thể chia sẻ một bài viết mà chưa hề đọc kỹ nội dung của nó, miễn sao tiêu đề hoặc vài ý trong đó phù hợp với lăng kính của họ. Khi họ tin một điều gì đó, thật khó có thể chấp nhận một góc nhìn khác. Nhẹ thì được gọi là thiên kiến trong nhận thức (cognitive bias hoặc confirmation bias), nặng thì được gọi là tín đồ hoặc là fan cuồng của một xu thế nào đó. Nhưng sau cùng, tất cả các xu thế (trends) đều đến và đi rất nhanh chóng như những chiếc bong bóng lóng lánh trên mặt nước, chỉ còn lại những gì lặng lẽ, nhẹ nhàng như nước sâu dưới mặt hồ phẳng lặng.

Những gì đúng mức về trí tuệ nhân tạo, về ý niệm công nghiệp 4.0, về nguy cơ hoặc mặt trái mà một phát minh mới có thể gây ra thì ít khi được thảo luận, thay vào đó những ý kiến chủ quan, nhận định cảm tính thì được chia sẻ không chút tư lự. Tôi liên tưởng nó giống như ‘đa cấp thông tin’ vậy.  Nếu dành đủ thời gian và năng lượng, những cuốn sách như “Big Data: A revolution that will transform how we live, work, and think” (Dữ liệu lớn: cuộc cách mạng sẽ chuyển hoá cách chúng ta sống, làm việc và tư duy) của những chuyên gia trong ngành hực sự hiểu biết về khoa học máy tính, hoặc những khoá học như Computer Science (CS50) hoặc Deep Learning (của Andrew Ng) sẽ cung cấp bức tranh toàn cảnh hơn.  Nếu tiếng Anh là rào cản tiếp cận thì cũng có rất nhiều người dành thời gian công sức để truyền tải những kiến thức, hiểu biết quan trọng, đa chiều sang nội dung tiếng Việt để chúng ta cùng tìm hiểu (vd. Sự thức tỉnh của AI vĩ đại)

Chi bằng học và tự học…để cho bớt khờ hơn!

Lại nói về bài thi chuẩn hoá (TOEFL, IELTS)

Trong một lớp học về tiếng Anh học thuật (academic English) cho sinh viên quốc tế đang theo học ở một trường đại học nằm giữa đại dương, thầy giáo giới thiệu một số kỹ thuật (strategies) về ghi chép (notetaking) để các bạn sinh viên làm quen và sử dụng trong quá trình nghe giảng các môn chuyên ngành. Sau khi trình bày xong, sinh viên thảo luận với nhau về những điểm mạnh, điểm yếu của mỗi kỹ thuật. Sau đó, một em nữ sinh từ xứ sở kim chi giơ tay phát biểu:

Kim Chi: Thưa thầy, em thấy những kỹ thuật ghi chép thầy giới thiệu thì có thể áp dụng trong việc nghe giảng các môn chuyên ngành, nhưng khi phải ghi chép làm bài thi TOEFL, em nghĩ hơi khó áp dụng, thầy có kỹ thuật nào hữu ích không?

Thầy giáo lắng nghe chăm chú, nhìn Kim Chi với vẻ vừa tò mò, vừa bối rối. Cả lớp yên lặng. Thầy giáo quay sang cầm cây bút (marker) và chậm giãi nói:

Tôi không nghĩ rằng tôi có thể trả lời câu hỏi của em, nhưng có một ý tôi muốn chia sẻ với em và các bạn trong lớp. Vừa nói, thầy vừa viết chữ TOEFL lên bảng: Mục đích của bài thi TOEFL hay IELTS là nhằm khảo sát xem người học có đủ năng lực tiếng Anh/sẵn sàng để có thể theo học các chương trình đại học hoặc sau đại học ở một quốc gia (nói tiếng Anh) hay không?  Nếu như em và các bạn có thể học tập tại đây thì tại sao còn băn khoăn về điểm số ấy?

Cả lớp cười vui vẻ. Thầy giáo đợi xem có ý kiến phản biện nào không nhưng không có bạn sinh viên nào trao đổi gì thêm. Có lẽ các bạn cũng hiểu thêm một chút về mục đích của bài thi mà không biết bao nhiêu người học khổ sở, vật vã, vui sướng, tự hào…đủ các cung bậc cảm xúc với nó. TOEFL hay IELTS là một công cụ được thiết kế để phục vụ cho những mục đích nhất định, nhưng bên cạnh nó vừa là ngành công nghiệp nhiều tiền, nó cũng là một công cụ bị hiểu sai và bị lạm dụng tràn lan.

Rất nhiều người, gồm cả những người trong & ngoài cuộc thường làm ngơ khi kết quả bài thi TOEFL/IELTS bị diễn giải sai hoặc bị sử dụng nhầm chỗ, một phần vì sự thiếu hiểu biết, một phần vì lợi ích đi kèm với nó quá lớn nên khó lòng cưỡng lại được. Nhưng điều đáng tiếc là nó được sử dụng để đưa ra những quyết định ảnh hưởng tới cuộc sống của nhiều người, những người chỉ sử dụng tiếng Anh vào những công việc cụ thể (dạy học, du lịch, làm việc…) mà không/chưa có ý định sử dụng tiếng Anh học thuật cho mục đích hàn lâm. Đành rằng là có học có hơn (học thuật), độ tin cậy của các bài thi ấy khá cao, và chắc hẳn đánh giá được năng lực tiếng Anh của người học, nhưng nó phục vụ tốt nhất cho mục đích đã đề ra: hoạt động học tập, nghiên cứu bằng tiếng Anh ở trình độ đại học & sau đại học. Nếu dùng những bài thi ấy làm chuẩn hoặc cóp nhặt một phần từ những bài thi ấy thì dễ dàng chúng ta bị sa đà vào sự bất công. Nó giống như câu nói mà thường được cho rằng của Albert Einstein:

“Nếu bạn đánh giá một con cá bằng khả năng leo cây, con cá đó sẽ dành cả cuộc đời còn lại để tin rằng nó là một đứa ngu đần”.

công cụ cần dùng đúng việc
công cụ cần dùng đúng việc

Một hệ luỵ khác là việc coi điểm số TOEFL/IELTS giống như một thước đo vĩnh viễn, điểm càng cao thì càng ‘hoành tráng’. Nhưng thực chất đó mới chỉ là điểm bắt đầu của một câu chuyện dài hơi. Tràn lan trên các mặt báo và mạng xã hội là những câu chuyện ‘người hùng’ đã có điểm số này, điểm số kia. Kèm theo đó là các chiêu trò tiếp thị luyện thi, dạy học. Bạn đọc có thể phản biện tại đây rằng “phải chăng ông này đang có mâu thuẫn về mặt lợi ích?”. Không, chẳng có mâu thuẫn nào cả, mà đơn thuần đây chỉ là những hiểu biết tối thiểu cần được chia sẻ. Giống như Hieu Nguyen đã từng chia sẻ trên trang FB cá nhân:

Chúng ta đang sống trong một thế giới thay đổi hết sức chóng mặt, một thế giới mà 10 công việc ‘hot’ nhất năm 2010 thậm chí còn không tồn tại năm 2004, một thế giới mà để cạnh tranh nơi biển lớn đòi hỏi sức sáng tạo và học hỏi không ngừng… vậy mà ở nhà vẫn cứ diễn ra cảnh học sinh miệt mài ban ngày ở lớp, buổi tối cuối tuần cầm sách vở đi học luyện thi. Để rồi lại thành những cỗ máy luyện thi rất điêu luyện, thầy dạy chiêu trò mẹo làm bài, học sinh luyện nhiều thì tất nhiên cũng sẽ giỏi chơi chiêu. Rồi khi SAT 2300, TOEFL 110, IELTS 8.0 thì người người, nhà nhà vỗ tay khen.

Thật ra không có gì sai cả nếu khen là khen cho những nỗ lực phấn đấu hết mình của học sinh. Nhưng chính vì không biết cách khen, thêm chiêu trò quảng cáo marketing không mang tính giáo dục mà đầy màu sắc thương mại, dẫn đến một cái nhìn, một quan điểm hạn hẹp, hơi lệch, chưa toàn diện, nếu không muốn nói là… nguy hiểm. Một cái nhìn mà tốc độ lây lan đến chóng mặt, thêm vào đó là lại đến từ tiếng nói của những ‘chuyên gia luyện thi, tư vấn du học,’ nên nhiều người xem đó như là ‘chân lý.’ Đọc tiếp…{https://www.facebook.com/hieuchimen/posts/10100593042295651}

Ở góc độ kỹ thuật, bài thi TOEFL/IELTS là một loại hình chuẩn hoá, có nghĩa là điểm số của người học B chính là vị trí xếp hạng của người đó so với những người khác A-Z chứ không phải số câu trả lời đúng người học có được từ bài thi. Thêm vào đó, kết quả bài thi có được phải trải qua một quá trình phân tích phức tạp nhằm loại bỏ những yếu tố ăn may hoặc yếu tố bất thường có được từ quá trình gian lận hoặc thủ thuật làm bài. Chính vì thế việc luyện thi quá mức hoặc tập trung quá nhiều vào các mẹo mực sẽ chẳng giúp người học nâng cao năng lực ngôn ngữ. Khi người học có năng lực ngôn ngữ thì đều có thể thể hiện được cho dù đó là công cụ đo nào chăng nữa. Việc luyện thi nhằm mục đích làm quen hình thức bài thi hoặc được sử dụng như một kỹ thuật dạy học giúp người học nâng cao năng lực ngôn ngữ vẫn có giá trị, nhưng nếu chỉ tìm mọi cách để nâng cao điểm số thì là một việc cần xem xét lại.

Ngành học Second Language Studies (SLS)

Có một thực tế là mỗi khi gặp ai đó trao đổi hỏi han, biết mình là sinh viên mọi người luôn buông câu hỏi xem học ngành gì. Ban đầu thì hồn nhiên nói là ngành Second Language Studies (SLS), thế là kiểu gì sau đó cũng nhận được một cái nhìn rất tò mò và đầy bối rối. Có người sẽ hỏi luôn: “Thế là cậu học nhiều ngôn ngữ khác nhau à?” -“Không hẳn! đơn giản là tìm hiểu xem người ta học một ngôn ngữ mới diễn ra như thế nào.” -“Thế làm thế nào để học tốt một ngoại ngữ?” – “Mình không biết….!” Vài lần như vậy, có người thì hỏi ngay vì họ tò mò, có người thì tỏ ra bối rối, rồi mình nói ngay là đại loại như ngôn ngữ học ứng dụng (applied linguistics) hoặc đôi khi là giảng dạy tiếng Anh (TESOL) hoặc đơn giản là giáo dục (education). Thế rồi ai cũng gật gù, nếu quan tâm hơn gì cùng trao đổi, nếu không thì chuyển chủ đề nói về những mối quan tâm khác. Vậy ngành học SLS tập trung vào nội dung gì? Đối tượng nghiên cứu là gì? Sao không gọi luôn là ngôn ngữ học ứng dụng cho thuận tiện? ‘Second’ có nghĩa là chỉ tập trung vào ngôn ngữ thứ hai thôi hay sao, còn ngôn ngữ thứ 3, thứ 4 và đa ngôn ngữ thì sao? Vài người ngoại đạo so sánh luôn rằng ‘second language’ khác ‘foreign language’ vì học tiếng Anh ở Mỹ thì gọi là ‘second language’ còn học ở Việt Nam thì gọi là ‘foreign language’…bla bla…

Về cơ bản thì mỗi nhận định đều đúng nhưng chưa đủ. Đa số mọi người vẫn quen với ngành ngôn ngữ học ứng dụng nhiều hơn là Second Language Studies nhưng cũng có cách hiểu chưa đúng về ‘applied linguistics’ nếu tiếp cận theo kiểu ‘ứng dụng những nghiên cứu từ ngôn ngữ học’. Vì thế mà các học giả/nhà nghiên cứu ngôn ngữ 2 (second language/L2) mới đổi tên ngành thành Second Language Studies, chủ yếu ở Mỹ bao gồm các đại học như Michigan, Hawai’i, Indiana, Maryland…và cũng là những trường mà ngành học này có xếp hạng khá cao (so với các ngành ngôn ngữ học ứng dụng, TESOL…)

Đại học Hawai’i (UH) là một đại học giống như các đại học vùng ở VN (Đại học Quốc Gia HN, TP HCM) và có các cơ sở, trường thành viên trực thuộc. UH at Manoa (UHM) là cơ sở lớn nhất và là đại học nghiên cứu, khác với các cơ sở khác và các trường cao đẳng cộng đồng thiên về đào tạo nghề và sinh viên đại học. Họ cũng đào tạo sinh viên đại học nhưng chủ yếu tập trung vào sau đại học và đào tạo theo hướng nghiên cứu hàn lâm hơn là chuyên sâu về thực hành. Trong Đại học Hawai’i cơ sở Manoa lại có các trường thành viên như trường Khoa học KHXH&NV, trường Y Dược, trường Kiến Trúc, Trường Luật, trường Kinh Tế, trường Sư Phạm…Và khoa Second Language Studies thuộc trường Ngôn ngữ, Ngôn ngữ học & Văn học (College of Languages, Linguistics, and Literature). Trong khoa SLS thì có 4-5 ngành hẹp khác nhau. Về cơ bản thì họ tập trung vào 5 câu hỏi lớn: [1] What’s language? [2] How languages are learned? [3] How languages are taught? [4] How languages are assessed? [5] How language are used? Từ 5 câu hỏi này họ chia làm các chuyên ngành hẹp (specializations):

* Critical Second Language Studies (CSLS)
* Language Assessment, Measurement, and Program Evaluation (LAMPE)
* Language and Social Interaction (LSI)
* Language Education (LE)
* Second Language Acquisition (SLA)

Học viên thạc sĩ sẽ phải học 4 môn chính, bao quát đủ các khía cạnh của SLS bao gồm:
[1] SLS 441 Language Concepts for Second Language Learning and Teaching (ANALYZE) (tổng quan về phonetics & phonology; syntax, pragmatics) chủ yếu giúp người học hiểu về How languages work.
[2] SLS 650 Second Language Acquisition (LEARN) tổng quan về những nghiên cứu liên quan tới đắc thụ ngôn ngữ.
[3] SLS 6o0 Introduction to applied linguistics/SLS: tổng quan về những lĩnh vực khác nhau của ngôn ngữ học ứng dụng, làm quen với các phương pháp nghiên cứu cho mỗi lĩnh vực khác nhau, hướng dẫn khai thác, đánh giá văn phong khoa học, đọc và phân tích các báo cáo nghiên cứu.
[4] SLS 660 Sociolinguistics: tập trung vào các vấn đề liên quan tới việc sử dụng ngôn ngữ như World Englishes, liên văn hóa, language policy & planning…

Sau đó thì là các môn tự chọn cụ thể hơn, tuỳ theo mối quan tâm của người học mà họ tự chọn những môn phù hợp, trên cơ sở tham vấn với cố vấn học tập. VD như Task-Based Language Teaching cho nhóm Language Education (LE), phương pháp nghiên cứu định tính, phương pháp nghiên cứu định lượng …Những môn này tùy theo mức độ phát triển hiện tại và là mảng nghiên cứu của các giáo sư…Sinh viên cũng có thể học các môn khác bên ngoài khoa như bên khoa Tâm Lý học hoặc trường Sư Phạm. NCS thì được/bị yêu cầu chọn một chuyên ngành hẹp chính và ba chuyên ngành hẹp phụ khác. Vì thế thời gian đầu bắt đầu làm nghiên cứu sinh họ phải học thêm các môn ở mảng nghiên cứu khác thay vì chỉ tập trung vào mỗi mảng nghiên cứu của mình. Cách làm này vừa là cơ hội cũng đồng thời là áp lực cho NCS. Cơ hội là họ không chỉ biết mỗi lĩnh vực nghiên cứu của mình mà còn tiếp cận với nhiều góc nhìn từ những mảng khác. Áp lực là khi họ phải vượt qua bài thi tổng hợp thì mới được tiếp tục tập trung vào luận án và viết luận án tiến sĩ.

Như vậy, SLS có những điểm chung và cũng có những điểm hơi khác một chút. TESOL chỉ tập trung vào dạy TIẾNG ANH, và thiên hướng thực hành hơn. SLS có một chuyên ngành hẹp là Language Education (LE) nhưng không chỉ tập trung vào Tiếng Anh, mà còn bao gồm cả những ngôn ngữ khác (tiếng Trung, Tiếng Ả-rập…) tuỳ theo lựa chọn của học viên. Applied linguistics (AL) thì có vẻ bao quát nhiều mảng hơn (ngoài dạy học ngoại ngữ thì còn có thể là ngôn ngữ luật, xã hội học ngôn ngữ…). AL là lĩnh vực nghiên cứu tất cả những vấn đề thực tiễn mà có liên quan tới ngôn ngữ hoặc ngôn ngữ là trung gian, có thể bao gồm cả ngôn ngữ thứ nhất, thứ hai…Tuy nhiên, nhiều người cho rằng AL là ứng dụng của ngôn ngữ học (linguistis- applied) và cũng chưa có sự đồng thuận để đưa ra định nghĩa cho AL (nó là lĩnh vực bao gồm những gì, phạm vi đối tượng NC ra sao…).  SLS thay cho AL và tập trung vào “các vấn đề thực tiễn mà ngôn ngữ 2 (hoặc 3,4…) là trung tâm”. Nhiều người ngoài chuyên ngành với hay so sánh “second language” với “foreign language”. Tuy nhiên, đó là so sánh về “ngữ cảnh/context” còn với tư cách là một “ngành học/academic discipline”, SLS nghiên cứu nhiều ngữ cảnh khác nhau, bao gồm cả heritage language (vd. con em Việt Kiều thế hệ 1.5 trở lên học tiếng Việt ở Mỹ chẳng hạn) và nhiều ngôn ngữ khác nhau (ngôn ngữ thứ 2,3,4 như ở châu Âu đa số nói nhiều hơn 2 ngoại ngữ; và SLS cũng nghiên cứu cả các ngôn ngữ khác như tiếng Trung, tiếng Đức, tiếng Việt…).

Sự phân biệt rất tương đối và thường liên quan lẫn nhau (overlapping) và nhiều người cũng tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, mình chia sẻ góc nhìn của một người trong cuộc và cũng là góc nhìn có sự tìm hiểu, nghiên cứu trước đây (informed perspective).

Cộng hưởng: đơn giản mà vi diệu

Có những câu hỏi hết sức đơn giản mà lại rất khó tìm câu trả lời. Tại sao có người thích nhạc A trong khi những người khác lại điên cuồng vì nhạc B? Tại sao cùng một nội dung mà có người lĩnh hội được và nhiều người vật vã không hiểu nổi? Tại sao lại nói là cái ‘định mệnh’?…Cộng hưởng…

Khi nhắc tới “cộng hưởng” chúng ta thường liên hệ tới lĩnh vực vật lý nhằm mô tả những dao động riêng bị tác động bởi một (hoặc nhiều) dao động khác có cùng tần số làm cho biên độ của dao động đó đạt giá trị cực đại. Ứng dụng của hiện tượng cộng hưởng được thể hiện ở rất nhiều khía cạnh khác nhau, đơn giản như truyền thanh, truyền hình và phức tạp như sử dụng máy cộng hưởng từ trong y học. Nhưng ‘cộng hưởng’ trong bài này không chỉ là một hiện tượng vật lý mà là một quy luật vận hành của rất nhiều khía cạnh khác trong đời sống xã hội, nếu không muốn nói là mọi thứ trong vũ trụ. Thật ngây thơ để khái quát hoá một(vài) hiện tượng thành quy luật nhưng đôi khi sự chiêm nghiệm sâu sắc và quan sát tinh tế lại có những giá trị nhất định nào đó mà ta chưa thể biết được.

Nhiều năm trước đây (12 năm) mình đọc một cuốn sách và vô tình nghe tới thành ngữ: “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” nói tới những thứ tương đồng thì thưởng cộng hưởng với nhau. Một cách cơ học, vì chúng gần hoặc chung tần số. Ở khía cạnh khác thì người ta cũng nói đó chính là sự ‘đồng điệu trong tâm hồn’ hay đơn giản là ‘ngưu tầm ngưu, mã tầm mã’, ‘gần mực thì đen, gần đèn thì rạng’. Những câu nói trong dân gian thường dùng những thứ đơn giản để mô tả những điều phức tạp. Nhưng nếu cho rằng những câu nói đó thể hiện trình độ khoa học kỹ thuật tại thời điểm đó thì lại rất hàm hồ. Chẳng hạn như trước đây khi nhận xét về các tư tưởng triết học cổ đại, thầy dạy triết hay kết luận rằng những tư tưởng đó còn mông muội, sơ đẳng, quy đồng mọi thứ về những vật chất thô sơ để làm nổi bật cho một triết thuyết khác (phê phán ngũ hành, tứ đại…). Nhưng nếu xét cho kỹ thì có rất nhiều nhận định tự cổ chí kim lại khá tương đồng theo một góc độ nào đó. Đơn cử một ví dụ, Albert Einstein, từ năm 1916, dựa trên thuyết tương đối rộng của ông đã dự đoán có sóng hấp dẫn và gần đây các nhà khoa học đã tìm thấy sóng này, một bước tiến mới để giúp con người hiện tại hiểu tốt hơn về vũ trụ. Tuy nhiên, nỗ lực của con người cố gắng hiểu về vũ trụ thì không phải đến Albert Einstein mới có. Lão Tử, một triết gia thời Trung Hoa cổ đại nhận định:

Có một vật hỗn độn mà thành trước cả trời đất. Nó yên lặng, vô hình, đứng một mình mà không thay đổi vĩnh cửu, vân hành khắp vũ trụ không ngừng, có thể coi nó là mẹ của vạn vật trong thiên hạ. Ta không biết tên nó là gì, tạm đặt tên cho nó là đạo. Đạo mà diễn tả được thì đó không còn là đạo bất biến nữa, tên mà gọi ra được thì đó không còn là tên bất biến nữa.”  

Trong tiếng Việt, khi nhắc tới “đạo” thì người ta hay liên tưởng tới các tôn giáo (hoặc giáo phái) hay ám chỉ một phạm trù khác (đạo đức). Thực tế thì ‘đạo’ chỉ là một cách định danh, và chính vì những cách định danh mà xảy ra không ít các vấn đề xã hội. Từ việc định danh mà con người có tư duy phân loại (categorical thinking), dẫn đến sự ra đời của trật tự, thứ bậc và phân biệt…Nếu không có tri nhận và tên gọi về màu da, chủng tộc thì chắc gì đã có vấn đề phân biệt đối xử. Tất cả những khái niệm, tên gọi đều do con người (cùng) tạo ra và sau đó những danh xưng đó lại làm bó hẹp tư duy và ảnh hưởng tới nhãn quan của mỗi người. Chẳng hạn như khái niệm về giới, một khái niệm rất tương đối. Nếu như trước đây người ta vẫn tin rằng có hai giới Nam/Nữ thì theo thời gian khái niệm chẳng còn đúng nữa.

Trở lại vấn đề sóng và cộng hưởng, chúng ta sẽ nói rằng thật ngây ngô và thiếu hiểu biết khi đánh đồng Lão Tử, Albert Einstein, và các nhà khoa học nhóm LIGO phát hiện ra sóng hấp dẫn. Mặc nhiên, mỗi thế hệ, mỗi cá nhân mang đến những giá trị khác nhau nhưng chúng ta chẳng thể phủ nhận rằng họ (và chúng ta) đều có thể cảm quan về vũ trụ theo một cách nào đó. Nói tới cộng hưởng, nếu chúng ta coi vạn vật trong vũ trụ đều là vật chất (khái niệm của triết học Mác-Lê), kể cả ý thức hay tàng thức của con người cũng là các năng lượng hay vật chất cao cấp thì cộng hưởng sẽ được hiểu nhưng một sự vận động hết sức tự nhiên, chuyển hoá năng lượng từ dạng này sang dạng khác. ĐẠO vốn dĩ “yên lặng, vô hình” cho nên vạn vật luôn cố gắng tự cân bằng để trở về trạng thái yên lặng. Nhưng muôn vàn lực và xung lực đã và đang tác động lẫn nhau, vừa cộng hưởng, vừa triệt tiêu nhau nên mới có luôn hồi sinh tử. Niết bàn hay đắc đạo chính là vượt ra ngoài sự cộng hưởng, cho dù sự cộng hưởng đó tốt hay xấu. Nhưng nếu không vượt ra được thì có nhận biết về sự tồn tại của cộng hưởng tuân theo những dao động của chúng thì sẽ tốt hơn.

Nikola Teslamột nhà phát minh, nhà vật lý, kỹ sư cơ khí và kỹ sư điện người Mỹ gốc Serbia từng nói:

“If you want to find the secrets of the universe, think in terms of energy, frequency and vibration.” Nếu bạn muốn biết những bí mật của vũ trụ, hãy tư duy dựa vào năng lượng, tần số, và sự dao(rung) động.

Ông được biến đến với nhiều đóng góp mang tính cách mạng trong các lĩnh vực điện và từ trường trong cuối thế kỷ 19 đầu thế kỉ 20. Nhưng sinh thời, ông bị bị cô lập và bị coi là một nhà bác học điên lúc cuối đời. Có lẽ tần số tư tưởng của những người ở thời của ông chẳng thể cộng hưởng được với những cái thấy của ông.

FOLI: Chẳng có biến chuyển nào mà không có nhịp (there is no movement without rhythm)

 

 

Giáo viên & nhà nghiên cứu: văn phong

Blog “Evidence-based EFL” (tạm hiểu: dạy tiếng Anh thực chứng/dựa vào các nghiên cứu) gần đây chia sẻ một bài viết  có tên ‘Misapplied Linguistics’ (ngôn ngữ học ứng dụng-nhầm) phản ứng về tính ứng dụng của những nghiên cứu hàn lâm. Cụ thể, bài viết cho rằng nhà nghiên cứu sử dụng các thuật ngữ gây nhầm lẫn, diễn giải không đúng phát hiện của họ, và những người trung gian (giảng viên, đào tạo giáo viên) cũng hay hiểu sai. Những lập luận này không phải là không có lý vì từ lâu nay vẫn tồn tại nhận thức về sự phân chia giữa lý luận & thực tiễn. Tôi chia sẻ lại một vài suy nghĩ trước đây (02/2015), tập trung vào khía cạnh văn phong.

———-

Viết bao giờ cũng có mục đích, cũng có đối tượng đọc giả nhất định. Chính vì vậy văn phong khác nhau cũng dành cho những đối tượng khác nhau. Điều này thể hiện rõ ràng nhất trong văn phong khoa học. Từ trước tới nay, rất nhiều người phàn nàn và chỉ trích cho rằng văn phong khoa học khô cứng, hàn lâm, những người làm chuyên môn (professionals/practitioners) khó, thậm chí không thể tiếp cận được. Nhưng trên thực tế, thể loại văn phong này chủ yếu hướng tới đối tượng người đọc có cùng kinh nghiệm trong lĩnh vực ấy: những học giả & người làm công tác nghiên cứu.

Khi còn là giáo viên, đã không ít lần tôi thắc mắc và chỉ trích những công trình nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực giáo dục ngoại ngữ đôi khi chỉ ra những điều hết sức hiển nhiên mà bằng kinh nghiệm của một giáo viên mới vào nghề tôi cũng có thể nhận ra điều đó. Tuy nhiên, giờ đây tôi hiểu được những điều mình “biết” (knowing) và những “điều được kiểm chứng” (attested knowledge) là hoàn toàn khác nhau. Cho dù những điều được kiểm chứng không phải là chân lý tuyệt đối (absolute truth) nhưng rõ ràng ưu điểm của chúng là thường xác tín hơn (valid), bao quát hơn (representative), sâu sắc (logical) hơn những kinh nghiệm thông thường do quá trình tìm hiểu (inquiry) có tính hệ thống hơn (systematic) và luôn được phản biện nghiêm ngặt hơn (critically rigorous). Những kiến thức này được triết gia John Dewey gọi là “nhận định có tính đảm bảo” (warranted assertibility, 1981, p. 15).

Chính vì đặc thù của loại kiến thức này mà việc trình bày nó cũng có những quy định, thể thức nghiêm ngặt để những người đồng môn có thể xem xét, phản biện để từ đó có thể công nhận hoặc bác bỏ trước khi những kiến thức ấy có thể tới được đối tượng người đọc thông thường. Như vậy có thể thấy rằng, văn phong khoa học chủ yếu phục vụ cho những người làm khoa học, những người hàn lâm đã có kiến thức, kinh nghiệm tối thiểu trong lĩnh vực đó để có thể tiếp cận và sử dụng. Thể loại văn phong này được trình bày chủ yếu qua các bài báo đăng trên tạp chí hay các chuyên san, tuyển tập bài viết có tính chuyên môn hóa, mang kỹ thuật (technical) cao. Những người không tham gia vào cộng đồng này một cách thường xuyên, liên tục thì khó có thể tiếp cận được. Cho dù những người được đào tạo, có chuyên môn về lĩnh vực này, khi không cập nhật thường xuyên, họ khó có thể bắt kịp với những thay đổi về nghị trình nghiên cứu (research agenda), những tranh luận, giải thuyết mới đưa ra (new hypotheses/debates) hay những phương pháp nghiên cứu được bổ sung khác nữa (new research methods).

Đối với những nhà chuyên môn, họ cũng xây dựng và chia sẻ một thể loại văn phong khác phù hợp với nhu cầu, trình độ và kinh nghiệm của mình. Thể loại này cũng được chia sẻ qua các bài báo đăng trên các tạp chí, các cuốn sách có tính đặc thù và có đối tượng là những người cùng trong lĩnh vực nghề nghiệp giống nhau như giáo viên, luật sư, làm vườn…Tuy nhiên, những bài viết này không phải là bài báo khoa học, mặc dù đôi khi những người làm chuyên môn cũng có kinh nghiệm ở lĩnh vực khoa học và kết hợp một số kiến thức, kinh nghiệm, kỹ thuật ở lĩnh vực hàn lâm vào công tác chuyên môn. Trên thực tế cũng có rất nhiều người thành công cả ở hai lĩnh vực, tuy nhiên, để đánh giá và công nhận những bài báo khoa học thì phải dựa vào tạp chí theo định hướng nghiên cứu đã đăng bài báo đó thay vì chỉ có một bài báo trên tạp chí bất kỳ nào đó. Với sự phát triển công nghệ hiện nay, việc xuất bản và tự xuất bản không phải là một xu hướng quá mới mẻ đối với nhiều người. Mỗi người đều có thể tự đưa lên mạng những bài viết của mình cho dù có được kiểm chứng hay không. Và quan trọng là đối tượng người đọc, người sử dụng đánh giá, áp dụng những nội dung ấy ra sao.

Có thể thấy rằng có ba thể loại diễn ngôn trong lĩnh vực giáo dục ngoại ngữ: diễn ngôn khoa học (research-based discourse), diễn ngôn sư phạm (pedagody discourse) và diễn ngôn kết hợp (hybrid discourse) (theo Ellis & Shintani, 2014, p. 1-3). Việc tham gia, hiểu biết những ngôn ngữ đặc thù này cần một quá trình học tập và thực hành tích cực để có hiểu và vận dụng được. Đối với những người làm chuyên môn, họ không đợi cho tới khi tất các những kiến thức được kiểm chứng đã toàn diện mới đem ra áp dụng, mà thay vào đó họ phải vận dụng tất cả những cách tìm hiểu khác nhau (ways of knowing) để đưa ra quyết định cho công việc của mình (Dương Thiệu Tống, 2005). Đặc biệt là giáo viên, họ không thể đợi những nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục thật hoàn thiện và đem ra áp dụng, mà họ vẫn phải liên tục đối đầu với những thách thức khi chưa có đủ thông tin, và từ đó hình thành nên những kinh nghiệm trong thực tế qua quá trình thử sai (trial & error).

Do vậy, chúng ta không thể dùng kiến thức, kinh nghiệm, tiêu chuẩn ở nghề nghiệp này để đánh giá, áp đặt cho những sản phẩm, hoạt động của nghề nghiệp khác. Những người giáo viên đứng lớp không thể đòi hỏi những nhà nghiên cứu đưa ra đáp án cụ thể cho những thắc mắc  hay những giải pháp tóm gọn, dùng được ngay trên lớp học. Ngược lại, những học giả, nhà hàn lâm không thể áp đặt giáo viên phải dạy theo cách này, theo cách kia mà không tự nhận thức được những giới hạn, những thiếu sót của mình. Nhà nghiên cứu có thể chia sẻ những nhận định mới, những kiến thức mới, đa chiều để giáo viên có cơ hội mở rộng hơn chân trời nhận thức và từ đó ảnh hưởng tới hành động thực tế. Giáo viên cũng không ngừng chia sẻ những kinh nghiệm thực tế, những khó khăn vướng mắc của mình để ảnh hưởng tới nghị trình nghiên cứu của các nhà hàn lâm. Có như vậy thì cả hai công việc mới hy vọng tìm được tiếng nói chung và hỗ trợ tích cực cho nhau.

————

Để phần nào hình dung được sự nghiêm ngặt và đôi khi khắc nghiệt của thế giới hàn lâm, chúng ta có thể theo dõi những tranh luận về lợi ích của những người song ngữ (bilinguals) qua một bài viết gần đây: The Bitter Fight Over the Benefits of Bilingualism;

Trau dồi năng lực liên văn hoá qua PBLL

Hội thảo HITESOL  diễn ra ngày 13/02/2016 với chủ đề (theme) “Languacultures and ELT”, lần này BTC mời chủ tịch hiệp hội giảng dạy tiếng Anh TESOL Andy Curtis làm diễn giả chính. Bài nói của TS. Andy Curtis tập trung vào khía cạnh đa văn hoá, đa ngôn ngữ, đặc biệt trong bối cảnh Hawai’i. Những câu chuyện cá nhân của Andy được chia sẻ theo một cách rất dí dỏm và hết sức thú vị. Andy chuyển công việc y khoa tại một bệnh viện sang theo đuổi khoa học xã hội, làm chuyên gia của lĩnh vực giao tiếp liên văn hoá và đóng góp rất nhiều cho lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh. Những quan sát xã hội học hết sức thú vị trong mấy ngày ở Hawaii làm bài nói của ông rất sâu sắc. Trong những lần đi công tác, thay vì ở trong khách sạn 5 sao thì ông cũng tranh thủ thời gian “lê la” bên các cửa hàng McDonald vào những thời điểm mà dân địa phương hay lui tới. Làm như vậy mới thấy được bức tranh muôn màu của xã hội chứ không chỉ ở mãi trong tháp ngà mà phán xét.

Đóng góp chung vào chủ đề chính của hội thảo, mình cũng có một bài báo cáo với tựa đề “Trau dồi năng lực liên văn hoá qua cách tiếp cận dự án trong dạy-học ngôn ngữ”. Khi gửi tóm tắt, bài trình bày có tiêu đề là: “Integrating/Tích hợp” nhưng sau suy nghĩ kỹ hơn thì mình thấy rằng năng lực liên văn hoá không phải là cái có sẵn để mà tích hợp, ngược lại năng lực này cần được ‘trau dồi/cultivate’ theo thời gian. Cách tiếp cận dạy-học ngoại ngữ qua dự án được sử dụng để giúp người học phát triển năng lực này.

Lấy từ một phần của bài viết cho một môn học trước đó (SLS610), bài báo cáo tổng thuật lại lối tiếp cận dạy-học qua dự án trong lĩnh vực giảng dạy ngoại ngữ và đề xuất những nghiên cứu chặt chẽ hơn cho đường hướng này. Bài trình bày gồm ba phần: (1) lý luận về dạy-học ngoại ngữ qua dự án; (2) năng lực liên văn hoá; (3) trau dồi năng lực liên văn hoá qua PBLL trong thực tế. Dạy học theo lối tiếp cận dự án (PBL) là một trong những xu hướng được rất nhiều người làm công tác giáo dục quan tâm, đặc biệt trong giáo dục nói chung. Theo thời gian, nhiều người trong lĩnh vực giảng dạy ngoại ngữ cũng bắt đầu quan tâm và thúc đẩy lối tiếp cận này (PBLL). Với PBL, có nhiều nghiên cứu từ lĩnh vực tâm lý giáo dục đưa ra các lý luận nền tảng, nhưng với PBLL thì chưa thấy cách diễn giải nào có tính bao quát và hợp lý. Thêm vào đó, các nhà giáo dục cũng chẳng thể đồng thuận với nhau để có thể đưa ra được một định nghĩa đơn nhất cho PBL hay PBLL. Thay vào đó, họ thường liệt kê ra các đặc điểm, yêu cầu để PBL/PBLL được thiết kế, triển khai, áp dụng thành công.

Trong bài này, mình cố gắng chỉ ra những lý luận trong lĩnh vực thụ đắc ngôn ngữ hai (SLA) và một số cách tiếp cận trong phát triển chương trình để làm lý luận nền tảng cho PBLL. Tiếp đó là đề cập tới khía cạnh liên văn hoá, qua đó người học ngoại ngữ hiện nay không chỉ cần hiểu biết về văn hoá của ngôn ngữ đích mà còn phải có hiểu biết về chính văn hoá của mình. Có được như vậy họ mới sử dụng tiếng Anh một cách phù hợp trong những bối cảnh khác nhau, phông văn hoá khác nhau, đặc biệt khi tiếng Anh được sử dụng như ngôn ngữ chung không chỉ của riêng các quốc gia truyền thống (inner circle theo cách phân loại của Kachru).

Tham dự nhiều bài trình bày khác nhau, mình có cơ hội chiêm nghiệm lại những kinh nghiệm trước đó. Đặc biệt qua một bài trình bày của một diễn giả đến từ Trung Quốc. Chị ấy nói về việc tích hợp kỹ năng liên văn hoá trong lớp học đông ở các trường đại học Trung Quốc thông qua cuộc thi “nghiệp vụ giảng viên”, tương tự như thi giáo viên giỏi nhưng người tham gia là các giảng viên đại học. Trước đây mình rất quen thuộc với hoạt động này ở các trường phổ thông, nhưng tình cờ lần này quan sát từ góc nhìn khác thấy hoạt động này mới kỳ cục làm sao. Đúng là bản chất của cuộc thi, nên người dự thi chỉ cố gắng biểu diễn, nói thao thao bất tuyệt và người học chỉ nghe mà chẳng làm được gì nhiều. Mình nghĩ rằng đó là thi biểu diễn (performance) chứ đâu phải thi dạy giỏi (teaching) vì chất lượng dạy học của một người giáo viên đâu có thể đánh giá được qua một tiết học, một bài biểu diễn. Anh bạn cùng lớp ngồi bên cạnh nói vui: “Tui thấy không phải là teaching contest mà là teaching to death”. Mình chêm vào: “tui thì thấy cái năng lực liên văn hoá đó không thể ban phát hay dạy được, mà chỉ  là người học lĩnh hội được”. Lúc này vai trò của người giáo viên chính là thiết kế, tổ chức các hoạt động dạy-học giúp người học trau dồi. Chính vì thế mà đôi khi trên lớp học tưởng chừng người giáo viên không làm gì mà lại làm rất nhiều. Thế là có thêm câu chốt để chua thêm vào bài trình bày của mình buổi chiều: “For PBLL, teaching is invisible, learning is tangible”. Nghĩa là giáo viên là người tư duy thiết kế, người học thực hiện và thể hiện thành quả học tập của mình qua những sản phẩm cụ thể.

Cũng nhân dịp logo mới mình thiết kế cho HITESOL được trưng dụng nên các trang chiếu cũng được chuẩn bị theo các hoạ tiết của logo. Điều vô cùng thú vị là mọi người rất thích thú với diện mạo mới và sử dụng trong tất cả các hoạt động (trang web, ấn phẩm, chương trình hội thảo…). Chỉ là chút mẹo vặt và mấy kỹ năng đồ hoạ hạn chế nhưng lại được đón nhận và ghi nhận nhiệt tình (điều này lạ lạ vì mình vẫn làm cho vui và ở nhà ta chẳng ai mấy quan tâm, ghi nhận). Thế là mình cũng cải thiện một chút về năng lực liên văn hoá…học cách ghi nhận cả nhừng điểu nhỏ nhặt, tiểu tiết…

from Hawai'i TESOL Newsletter
from Hawai’i TESOL Newsletter

Vài bức ảnh từ hội thảo:

Phân loại tạp chí trong lĩnh vực ngoại ngữ

Bài viết này bắt nguồn từ thắc mắc mình đã có từ rất lâu về các ấn phẩm trong lĩnh vực giáo dục nói chung và ngoại ngữ nói riêng. Đôi khi, nếu chúng ta quan sát hoặc để ý một chút, một tính từ trong tiếng Việt rất được ưa chuộng và đôi khi bị lạm dụng để nói về tầm cỡ một hoạt động nào đó là từ “quốc tế” (international), ví dụ như tạp chí quốc tế, hội thảo quốc tế, trường quốc tế, chương trình quốc tế, rồi tất cả các “tế” được đưa vào diễn ngôn như một công cụ để làm nổi bật tầm quan trọng của một thực thể, sự kiện nào đó. Cũng giống như các từ thời thượng khác như sáng tạo, đổi mới, tư duy phản biện, kỹ năng mềm…khả năng “đánh bóng” của những từ này thường rất hiệu quả, nên hay được dùng nhiều trong các chương trình thương mại và hoạt động kinh doanh. Đôi khi người ta dùng chúng nhưng một công cụ tiếp thị (selling/marketing points) mà chẳng định nghĩa rõ xem nó là gì. Chúng ta có thể kiểm chứng bằng cách mỗi lần nghe ai đó nói những từ hoa mỹ này, chen ngang và hỏi họ xem họ đang ám chỉ tới nội dung cụ thể nào. Chắc chắn chúng ta sẽ có được những quan sát và bài học vô cùng thú vị.

Mặc dầu vậy, ở một góc độ khác, việc mập mờ của những mỹ từ này lại là công cụ béo bở để người ta có thể nhập nhằng giữa những thứ chẳng ai định nghĩa chính xác được. Một quan sát dễ thấy là các trường đại học yêu cầu giáo viên phải có công bố quốc tế. Yêu cầu cụ thể của công bố quốc tế này là gì? Một bài viết dùng ngoại ngữ và đăng tải ở đâu đó ngoài Việt Nam? Sau một thời gian dài tìm hiểu mình xin phép tóm lược lại hiểu biết (nông cạn) để giúp những người dạy-học, nghiên cứu ngoại ngữ có cách nhìn phản biện hơn. Qua đây, chúng ta cũng có cách nhìn bao quát hơn để từ đó đặt mục tiêu, lập kết hoạch và triển khai các hoạt động tiếp cận, sử dụng và đăng bài trên các tạp chí. Có nhiều tiêu chí và tiêu chuẩn để đánh giá một bài viết, một tạp chí, một cuốn sách hoặc một trang web nào đó, nhưng để thuận tiện, chúng ta cùng giới hạn lại thành hai khía cạnh (dimensions) để tiện theo dõi.

Khía cạnh thứ nhất là mục đích của các tạp chí thể hiện qua đối tượng người đọc mà họ nhắm tới. Trong lĩnh vực giảng dạy, nghiên cứu ngoại ngữ thì chúng ta có thể phân loại thành hai nhóm chính: tạp chí nghề nghiệp và tạp chí nghiên cứu. Tạp chí nghề nghiệp trong lĩnh vực dạy-học ngoại ngữ thường là các bài viết nhằm giúp những người trong cùng cộng đồng hành nghiệp nâng cao hiểu biết và kỹ năng chuyên môn của họ. Các bài viết đôi khi là những kinh nghiệm tích lũy được, đôi khi là những cách làm cụ thể để giúp người khác có thể thực hiện theo, hoặc cũng có khi là một giáo án cụ thể. Tạp chí với mục đích phục vụ chuyên môn cho những người hành nghiệp thường ngắn gọn, cụ thể, được xuất bản qua tổ chức, hội nghề nghiệp trên khu vực nhất định, thông qua newsletter, magazines….Tạp chí nghiên cứu có đối tượng đọc giả chủ yếu là các nhà nghiên cứu trong cùng lĩnh vực yêu cầu kiến thức chuyên biệt, thường những bài viết này có nhiều trích dẫn và sử dụng nhiều thuật ngữ, cách tiếp cận tương đối hàn lâm, những người ‘bên ngoài’ đôi khi rất khó tiếp cận. Trong lĩnh vực ngôn ngữ hai, có rất nhiều tạp chí thuộc hẳn một trong hai trường phái, còn lại đa số nằm rải rác từ mục đích nghề nghiệp tới mục đích nghiên cứu. Chẳng hạn như một số tạp chí nghiên cứu nhưng lại có một chuyên mục dành cho những người thực hành như kinh nghiệm dạy học, nghiên cứu hành động, chiêm nghiệm…Ngược lại một số tạp chí nghề nghiệp cũng đăng các bài viết được nghiên cứu một cách có hệ thống. Việc phân loại thành hai nhóm này chỉ có tính tương đối vì phạm vi, mục đích của các bài viết, các tạp chí có thể hướng vào nhóm này hoặc hướng vào nhóm còn lại, hoặc đôi khi nhằm vào cả hai (thể hiện qua sự liên tục như hình dưới đây).

Khía cạnh thứ hai là mức độ mở của các tạp chí. Cũng tương tự như khía cạnh mục đích đã thảo luận bên trên, chúng ta không nên cho rằng các tạp chí hoặc là mở hoặc là đóng mà các tạp chí thường có các mức độ mở khác nhau. Mở ở đây có hai cách tiếp cận. Mở thứ nhất có nghĩa là mọi người đều có thể truy cập. Đóng có nghĩa là chúng ta phải trả phí để có thể truy cập và sử dụng. Thường những tạp chí đóng thì có lịch sử khá lâu đời và cũng có uy tín cao. Các bài viết trong những tạp chí này được bình duyệt, biên tập và trình bày rất chuyên nghiệp. Điều này không có nghĩa là những tạp chí mở chất lượng thấp hơn hoặc thiếu chuyên nghiệp hơn. Mở thứ hai có nghĩa là mức độ, phạm vi sử dụng của những bài viết trên mỗi tạp chí. Ví dụ như một số tạp chí thì yêu cầu người dùng xin phép nhà xuất bản trước khi sử dụng vào mục đích khác (thương mại, in lại, hoặc sử dụng trong các cuốn sách), trong khi một số tạp chí thì sử dụng tiêu chuẩn mở (creative commons), và cũng tùy theo mức độ cho phép khác nhau mà người dùng có quyền sử dụng khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta đều có thể sử dụng cho mục đích học tập, nghiên cứu cá nhân hoặc cho các hoạt động giáo dục, phi lợi nhuận.

Một khía cạnh khác chúng ta cần lưu tâm là các bài viết trong mỗi tạp chí có được bình duyệt (peer review) hay chỉ do người biên tập thẩm định, chỉnh sửa rồi đăng. Thông thường, các bài báo trong tạp chí nghiên cứu được gửi đi bình duyệt và quy trình khá tốn thời gian. Một số tạp chí chuyên môn cũng có yêu cầu bình duyệt, nhưng trong mỗi tạp chí có thể một số mục được yêu cầu bình duyệt, một số mục thì không bắt buộc. Thông qua quy trình bình duyệt thì nội dung các bài viết có thể chặt chẽ hơn, tin cậy hơn nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta chỉ chấp nhận những gì được phát biểu trong đó mà quên đặt ra những nghi vấn và đưa ra những ý kiến phản biện. Trình độ, uy tín của ban biên tập và những người tham gia bình duyệt không hoàn toàn như nhau vậy nên chất lượng bài viết trong các tạp chí cũng khá đa dạng.

Như chúng ta có thể quan sát qua hình dưới đây thể hiện sự tương tác hai chiều về mức độ mở và mục đích tạp chí. Nhóm thứ nhất là OPEN-PROFESSIONAL bao gồm các tạp chí đăng tải miễn phí trên các trang web, miễn phí truy cập. Nổi bật trong nhóm này là tạp chí English Teaching Forum, do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tài trợ, ra bốn số mỗi năm. Tạp chí được phát hành dạng bản in thông qua các Đại sứ quán của Hoa Kỳ từ năm 1962, bản điện tử được phát hành từ năm 2001. Tuy nhiên, ai quan tâm thêm các số ra trước đó từ 1994-1999 cũng có thể truy cập tại địa chỉ sau. Một số tạp chí khác tương tự cũng xuất hiện sau đó thông qua các tổ chức giáo dục hoặc các trường đại học.

Nhóm thứ hai là OPEN-RESEARCH bao gồm nhiều tạp chí dành cho các nhà nghiên cứu nhưng có thể truy cập mở, ai cũng có thể tiếp cận. Các bài viết trong những tạp chí này thường yêu cầu người đọc có kiến thức nền và hiểu biết về các phương pháp nghiên cứu được sử dụng. Từ đó giúp người đọc đánh giá tốt hơn chất lượng các bài viết và những nhận định đưa ra từ những bài viết này. Đa số những tạp chí này được tài trợ qua các dự án nghiên cứu hoặc các tổ chức…Nhiều tạp chí rất có uy tín và tăng dần vị trí trong bảng xếp hạng như Language Learning & Technology, PROFILE…

Phân loại tạp chí trong lĩnh vực ngôn ngữ 2
Phân loại tạp chí trong lĩnh vực ngôn ngữ 2
Nhóm tiếp theo là CLOSE-PROFESSIONAL bao gồm các tạp chí định hướng nghề nghiệp nhưng do các nhà xuất bản giữ bản quyền và thu phí truy cập. Người dùng thường phải trả phí thông qua đăng ký trực tiếp hoặc các trường trả phí truy cập. Nổi bật trong nhóm này là tạp chí ELT Journal của Anh, có lịch sử khá lâu đời, bắt đầu từ năm 1946. Tương ứng với ELT Journal là TESOL Journal xuất bản ở Hoa Kỳ.
Nhóm cuối cùng xét trong hai khía cạnh đã nêu là CLOSE-RESEARCH bao gồm những tạp chí giữ vai trò như diễn đàn cho các nhà nghiên cứu trao đổi, chia sẻ. Nổi bật trong nhóm này là tạp chí Language Learning (ra đời 1946), đây cũng là tạp chí có vị trí xếp hạng cao nhất thuộc lĩnh vực nghiên cứu ngoại ngữ trong nhiều năm. Tuy nhiên, nhiều tạp chí khác cũng bắt đầu vươn lên. Ai quan tâm tới bảng xếp hạng và các chỉ số có thể tham khảo thêm công cụ xếp hạng của SCImago dành cho nhóm ngôn ngữ và ngôn ngữ học (Language and Linguistics). Đây cũng là cách chúng ta có thể tìm hiểu thêm về một số tạp chí để từ đó có những quyết định phù hợp cho mục đích sử dụng và gửi bài.
Vậy cách phân loại này có ý nghĩa gì? Như một thói quen, chúng ta nên đặt câu hỏi “so what?” để đào sâu hơn vấn đề đang quan tâm. Nếu như trước đây, mình hay thắc mắc rằng tại sao các nhà nghiên đôi khi đưa ra những nhận định mà rất hiển nhiên với một người dạy ngoại ngữ nhưng lại thông qua những ngôn ngữ và cách diễn đạt rất phức tạp thì giờ đây mình hiểu một phần rằng bài viết của các học giả đôi khi không dành cho giáo viên hoặc người làm trực tiếp. Họ quan tâm tới hiểu biết, kiến thức nhiều hơn là việc họ làm được gì với những hiểu biết đó. Người giáo viên thì tiếp cận thực dụng hơn vì họ cần phải giải quyết vấn đề thực tiễn. Như vậy, từ cách phân loại thành hai nhóm, chúng ta có thể lựa chọn tạp chí phù hợp với nhu cầu, mục đích của mình để tiếp cận, sử dụng. Những tạp chí CLOSE thường khó truy cập được vì thư viện các trường đại học phải trả rất nhiều tiền cho các nhà xuất bản. Ở Việt Nam, việc các trường đại học dành khoản tiền lớn để mua các cơ sở dữ liệu thường khá khiêm tốn. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều tạp chí xuất bản mở và các bài viết cũng có chất lượng rất tốt. Mặt trái của xu hướng mở là các tạp chí ma, nhà xuất bản ma ra đời rất nhiều để những người muốn đăng bài có thể trả một khoản phí để được xuất bản. Cũng có một loại hình trả phí khác là thông qua các nhà xuất bản và các tạp chí CLOSE, tác giả trả phí để bài báo của họ được miễn phí truy cập. Mình đã liệt kê các tạp chí MỞ trong lĩnh vực nghiên cứu ngoại ngữ ở mục tài nguyên, ai quan tâm có thể tham khảo.
Việc liệt kê những tạp chí MỞ này dựa vào một vài tiêu chí và kinh nghiệm cá nhân, nên chúng ta tiếp cận cũng cần có tinh thần phản biện. Dân gian đã có câu “Chiếc áo không làm nên thầy tu”, vì vậy mỗi người cần dựa vào kiến thức chuyên môn của mình mà đánh giá. Không phải vì một bài báo đăng trên tạp chí có xếp hạng thấp mà chất lượng hoặc mức ảnh hưởng giảm đi và ngược lại, không phải cứ bài nào đăng trên tạp chí có xếp hạng cao cũng có tác động tốt, cho dù các xếp hạng dựa vào những chỉ số khác nhau. Chẳng hạn như, một công trình được cộng đồng nghiên cứu đánh giá cao, trích dẫn nhiều nhưng đôi khi lại ít có giá trị trong thực tiễn giảng dạy của giáo viên…Vậy nên, chúng ta cần “lựa cơm, gắp mắm” và không ngừng hoài nghi và phản biện.
Việc gửi bài và đăng bài cũng tương tự như vậy, nếu bài viết của chúng ta hữu ích cho những người dạy-học thì gửi cho các tạp chí nghề nghiệp sẽ phù hợp hơn. Nếu chúng ta muốn nhiều người có thể đọc và sử dụng thì nhắm tới các tạp chí mở. Tương tự, những bài viết từ những công trình nghiên cứu công phu, bài bản và đóng góp thêm vào kiến thức chung của ngành thì nên được đăng trên các tạp chí nghiên cứu, tuy nhiên cũng sẽ mất thời gian nhiều hơn và yêu cầu cao hơn. (Kinh nghiệm gửi bài báo nên tham khảo Willy A Renandya qua bài viết trên ELTWO)
Cũng từ cách tiếp cận này mà chúng ta nên có cách đánh giá phù hợp hơn. Nếu A là một nhà nghiên cứu (thường có bằng tiến sĩ) thì năng lực của A phải thể hiện qua các bài báo đăng trên tạp chí phù hợp (chứ không phải cứ ‘quốc tế’ chung chung). Ngược lại, nếu B là một giáo viên ngoại ngữ thì B có năng lực dạy học, có chuyên môn hay không thì cần có nhiều tiêu chí, cách tiếp cận khác chứ không phải thông qua mỗi hoạt động xuất bản của B.

Cách tìm kiếm các bài viết học thuật (*)

Nhiều lần tham gia bồi dưỡng giáo viên phổ thông theo đề án 2020, mình hay sử dụng những nguồn học liệu mở, gửi một (vài) địa chỉ trang web và yêu cầu các thầy cô nhập vào thanh địa chỉ, một lát sau thấy các thầy cô báo lại là không truy nhập được. Hóa ra các thầy cô gõ địa chỉ đó vào công cụ tìm kiếm Google. Công cụng tìm kiếm Google phổ biến tới mức nhiều người quen dùng như một phản xạ tự nhiên, quên cả thanh địa chỉ thành ra có cả những câu vần vè (chế từ nguyên tác của cụ Nguyễn Du)

Trăm năm trong cõi người ta,/Cái gì không biết thì tra Gu-gồ (Google)

Cũng tương tự như vậy, nhiều người vẫn hay nói là Dr. Google cái gì cũng biết. Tuy nhiên, công cụ hữu ích như vậy nhưng không phải ai cũng có kỹ năng tìm kiếm, khai thác thông tin hiệu quả như nhau. Hai bạn đồng môn của mình, thông minh như nhau, hoạt bát như nhau và lúc nào cũng là hai ngôi sao trong lớp mỗi lần các bạn tham gia phát biểu. Thế nhưng một người lúc nào cũng nhàn hạ, một người thì rất tất bật. Một bạn thì luôn tìm được những thứ bạn ấy muốn khi cần và một bạn thì tìm mãi không được. Điều này được thể hiện rõ khi hai bạn làm việc nhóm với nhau về cùng một dự án. Bạn tất bận thắc mắc: ‘Sao tớ tìm mãi không được mà bạn tìm là thấy tài liệu phù hợp ngay?’ (cả hai đều là người bản ngữ)

Nói như vậy để thấy không phải cứ biết dùng công cụ là chúng ta có thể tìm kiếm hiệu quả. Đó phải là sự kết hợp giữa công cụ với kiến thức chuyên môn, cộng với kinh nghiệm tìm kiếm được tích lũy, phát triển theo thời gian của mỗi người. Trong bài viết này, mình chia sẻ một số kỹ thuật hay sử dụng từ kinh nghiệm cá nhân, đặc biệt khi tìm kiếm các bài viết học thuật, phục vụ cho các mục đích học tập, nghiên cứu. Với những mục đích khác nhau thì kỹ thuật tìm kiếm cũng khác nhau, những cách tiếp cận dưới đây dành cho những tài liệu mang tính học thuật (academic), và chủ yếu cho ngành dạy-học ngoại ngữ.

Tìm khái quát/Global search

Lợi thế của việc tìm kiếm tài liệu một cách bao quát là chúng ta sẽ không bỏ sót những bài viết, công trình quan trọng mà có thể ẩn lấp ở đâu đó. Nếu chỉ chăm chú vào những nguồn quen thuộc thì chúng ta sẽ bỏ sót nhiều. Câu chuyện thú vị tôi nghe được từ kinh nghiệm của một giáo sư là khi tôi thắc mắc tại sao từ những năm 80-90 khi trong lĩnh vực tâm lý học, giáo dục học nhiều học giả đã tiếp cận động cơ, động lực học tập từ nhiều góc độ rất đa dạng mà trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ 2 lại chỉ tập trung vào công trình của Gardner. Mãi sau này mới có những cách tiếp cận khác qua các bài phân tích phản biện. Ông giáo sư nói thật rằng những người trong ngành lúc đó chủ yếu tiếp cận thông tin qua tạp chí in, chứ không được đa dạng, đa chiều như thời bây giờ có internet và những cơ sở dữ liệu lớn cho phép các nhà nghiên cứu tìm kiếm liên ngành. Câu chuyện cho thấy sự hạn chế về công nghệ và cũng là văn hóa bộ lạc (tribal culture) trong cộng đồng những người nghiên cứu. Đôi khi, một người đã quen với một vài lối tiếp cận (niềm tin của họ về bản thể luận, nhận thức luận, phương pháp luận) rất khó thay đổi lối suy nghĩ hoặc nhìn ra bên ngoài lĩnh vực nghiên cứu của mình, thậm chí sẵn sàng thiên kiến để bảo vệ lập trường của họ. Vì thế, tìm khái quát cũng là một cách nghĩ bao quát, cân bằng tránh lối tiếp cận mang tính phiến diện.

Tuy nhiên, nếu không giới hạn thì chúng ta lại có quá nhiều thông tin không chọn lọc hết. Như một thói quen, khi phải tìm kiếm thông tin gì là mọi người hay lên mạng và tra cứu qua công cụ Google. Chỉ cần một từ khóa đưa vào thì trong một hai giây đã có hàng ngàn, hàng triệu kết quả được liệt kê. Nhưng khi tìm kiếm các bài viết học thuật, công cụ này không phải lúc nào cũng hữu dụng vì nó tìm tất cả những gì liên quan tới từ khóa chứ không tập trung vào một mảng cụ thể nào cả. Chính vì vậy mà Google cung cấp một công cụ tìm kiếm chuyên biệt hơn có tên là Google Scholar (google dành cho học giả/học thuật). Google Scholar là công cụ phổ biến, tìm tất cả những bài viết liên quan tới từ khóa đưa vào, có thể sử dụng các bộ lọc để tìm chính xác hơn. Thêm vào đó, người dùng cũng có thể một phần đánh giá được chất lượng của bài báo qua các chỉ số cung cấp sẵn. Mình có làm một video chia sẻ cách dùng Google scholar ở đây (tạm thời).

Ngoài Google Scholar thì còn rất nhiều công cụ tìm kiếm khác như JURN giúp tìm kiếm các bài báo, chương sách và luận văn miễn phí; ERIC tìm và cho phép tiếp cận các bài tóm tắt, đôi khi toàn văn của rất nhiều bài báo trong lĩnh vực giáo dục; OpenDOAR tìm tất cả các công trình có tính học thuật qua các thư mục mở; đặc biệt là JSTOR (viết tắt của Journal Storage) là thư viện điện tử ra đời từ 1995, bao gồm tóm tắt của tất cả các tạp chí, sách trước đây và hiện nay được số hóa, cung cấp toàn văn cho gần 2000 tạp chí. Tương tự như JSTOR là Project MUSE, dự án phi lợi nhuận do hiệp hội thư viện cộng tác với là xuất bản để tạo ta cơ sở dữ liệu trực tuyến cho hơn 300.000 tạp chí học thuật có bình duyệt và 700.000 chương sách điện tử, chủ yếu dành cho lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. (tương tự như Project MUSE cho khoa học tự nhiên là The arXiv).

Bên cạnh những công cụ miễn phí kể trên, một số công cụ có thu phí (thường thông qua thư viện các trường đại học) được nhiều học giả hay sử dụng là Linguistics and Language Behavior Abstracts (LLBA),  Education Full Text của ESBCO…Thêm vào đó là công cụ tìm kiếm qua thư viện của các trường đại học (tạm gọi U search engines), đặc biệt là từ các trường công. Rất nhiều trường chia sẻ các công trình của cán bộ trong trường lên hệ thống mở để mọi người đều có thể truy cập được, VD. Đại học Hawaii có ScholarSpace và công cụ tìm kiếm One Search hay Đại học Amsterdam, Hà Lan có công cụ tìm CataloguePlus; Đại học Thái Nguyên có đăng ký cơ sở dữ liệu ProQUEST Central.

Tìm chuyên sâu/Local search

Sau khi tìm qua các công cụ tìm kiếm bao quát thì chúng ta cũng có thể tìm trong từng tạp chí cụ thể. Phần này yêu cầu nhiều kiến thức chuyên môn nhiều hơn khi người tìm cần biết rõ tạp chí nào phù hợp cho những mảng nghiên cứu của mình. Đa số các tạp chí hiện nay đều được phát hành trực tuyến dưới dạng điện tử, vậy nên chỉ cần chúng ta vào trang web của tạp chí đó là gõ từ khóa vào tìm kiếm là chúng ta có thể thấy được các bài báo phù hợp. Ví dụ, mình truy cập vào tạp chí Language Learning, một trong những tạp chí hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ 2. Chỉ cần gõ từ khóa ‘motivation’ vào ô tìm kiếm, sau vài giây đã cho 581 kết quả. (xem hình dưới đây)

ảnh chụp màn hình Wiley Online Library
~ ảnh chụp màn hình Wiley Online Library
~ ảnh chụp màn hình Wiley Online Library
~ ảnh chụp màn hình Wiley Online Library

Bên cạnh tìm qua từng tạp chí cụ thể, chúng ta cũng có thể tìm qua các chuyên gia đầu ngành. Đa số các nhà nghiên cứu/học giả hiện nay đều có trang web riêng chia sẻ công trình nghiên cứu của họ. Trên đó họ chia sẻ các bài báo đã xuất bản, các công trình đang triển khai…Việc biết ai (who) cũng quan trọng không kém việc biết gì (what). Ví dụ, trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ 2, Zoltán Dörnyei được biết đến chủ yếu về các công trình nghiên cứu tới động cơ học tập, có trang web tại địa chỉ http://www.zoltandornyei.co.uk chia sẻ rất nhiều nội dung hữu ích. Hoặc như giáo sư Stephen Krashen rất nổi tiếng với giả thuyết input (ngữ nhập). Đâu đó, mình đã bắt gặp danh mục tên các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực ngôn ngữ 2 từ A tới Z. (Directory of Linguists)

Một cách tìm kiếm sâu khác là chúng ta có thể hỏi trực tiếp trên các diễn đàn, các cộng đồng hành nghiệp (Community of Practice). Đây thường là các diễn đàn chuyên môn hoạt động qua các các nhóm trên FB, hoặc mailing list. Chúng ta có thể hỏi để khai thác trí tuệ đám đông. VD. như Teacher Voices; VieTESOL, EUROCALL…Cũng giống như tìm trong các tạp chí, chúng ta cần biết mình muốn gì và nhóm nào thì có thể giúp được.

Tìm thủ công/Manual search

Cuối cùng là một số cách tìm kiếm, tương đối thủ công. Chúng ta có thể hỏi những người kinh nghiệm hơn, đặc biệt những người có chuyên môn sâu về mảng chúng ta quan tâm ở cùng đơn vị công tác, hoặc cũng có thể email trực tiếp cho những người mà chúng ta nghĩ họ có thể giúp (personal email). Email trực tiếp cũng là một cách kết nối tốt, thuận lợi cho những trao đổi mang tính học thuật về sau. Khi mình đọc một bài viết về “phân tích nhân tố khám phá”/exploratory factor analysis (EFA), mình đã email cho tác giả bài báo đó, ngày hôm sau bác ấy gửi cho cả cuốn sách ebook gần trăm trang để tìm hiểu thêm.  

Một cách tìm thủ công khác là thông qua danh mục tham khảo từ một bài báo chúng ta đang đọc (List of References). Khi đã có một bài báo liên quan, nhất là các bài có uy tín và mới phát hành gần đây thì các trích dẫn bài báo đó sử dụng cũng là một nguồn tham khảo tốt. Tương tự, chúng ta cũng có thể tìm tất hầu hết các công trình nghiên cứu về một nội dung cụ thể nào đó thông qua Bibliography (tạm gọi là danh mục các bài báo, sách chuyên khảo về từng lĩnh vực cụ thể). Rất nhiều nhà nghiên cứu và các nhóm chuyên sâu duy trì và chia sẻ các danh mục này. Chẳng hạn, nếu chúng ta quan tâm tới đọc mở rộng ER (extensive reading) thì các công trình nghiên cứu về ER được tập hợp tại đây; Hay những ai quan tâm tới autonomy trong học ngoại ngữ có thể tham khảo danh mục của Hayo Reinders. Mẹo nhỏ là hãy sử dụng từ khóa “Bibliography + mảng nghiên cứu” bạn quan tâm vào Google, chúng ta sẽ thấy các danh mục này ở dạng doc. hoặc pdf. …

Cuối cùng, nếu như trước đây, khi mình xem phần chỉ mục (index) ở cuối sách thì giống y như gà xem tranh, chẳng biết họ để những cái chỉ mục đó để làm gì. Giờ thì mình hiểu ra là để giúp chúng ta tìm kiếm tốt hơn, đặc biệt là khi không dùng các công cụ điện tử. Cách này có thể giờ không còn phổ biến, nhưng đôi khi hữu dụng.

Kết luận

Trên đây mình đã chia sẻ một số cách tìm kiếm từ kinh nghiệm cá nhân và phân loại theo 3 cách tiếp cận chính. Nhưng trên thực tế quy trình đó chẳng bao giờ diễn ra tuần tự, mà mình kết hợp nhiều phương pháp, kỹ thuật tìm kiếm khác nhau theo thời điểm khác nhau và nhu cầu khác nhau. Nếu chỉ sử dụng mãi một công cụ/một cách tiếp cận thì rõ ràng dễ rơi vào “publication bias” (chẳng hạn như các học giả phương Tây chẳng mấy khi tiếp cận những bài báo học thuật từ những quốc gia khác, đặc biệt là các tài liệu này được viết bằng ngôn ngữ không phải tiếng Anh…)

Từ kinh nghiệm cá nhân, mình thấy kỹ thuật tìm kiếm cần được phát triển theo thời gian, tìm nhiều sẽ có mẹo và cách xử lý thông tin (tacit knowledge). Cách tìm kiếm thông minh là khi ta gõ một (vài) từ khóa vào, rồi dựa vào những gì tìm được lại tiếp tục chọn lọc (refine) để tìm tiếp thay vì chỉ tìm một lần rồi thôi.

(*) Nội dung bài này chủ yếu dành cho những người trong lĩnh vực ngoại ngữ/nghiên cứu ngôn ngữ 2…Mình có ý tưởng từ 4/12/2015, giờ mới viết hoàn chỉnh và chia sẻ.  HNL 04/01/2015