“Chủ” & “Khách” trong đời sống công nghệ

Gần 15 năm trước đây, Prensky (2001a) viết một bài báo để mô tả một thế hệ người học mới mà ông đã dùng phép ẩn dụ trong lĩnh vực dạy-học ngoại ngữ: người bản địa v.s người nhập cư để diễn giải. Theo đó, những người nhập cư dù sống với cộng đồng ngôn ngữ mới trong rất nhiều năm nhưng cũng khó có thể (hoặc không thể) đạt được mức độ thuần thục như người bản địa, những người nói ngôn ngữ ấy ngay từ nhỏ. Những người nhập cư này luôn mang theo những dấu ấn của ngôn ngữ gốc, đặc biệt là chất giọng. Với lập luận này, ông cho rằng thế hệ người học mới hiện nay (thời điểm 2001) đã luôn khác xa thế hệ trước đó, đặc biệt là cách các em suy nghĩ và xử lý thông tin về cơ bản đã khác (think and process information fundamentally differently). Ông còn trích dẫn phát biểu của các nhà sinh lý học cho rằng não bộ của người học cũng thay đổi một cách cơ học/thể chất (our students’ brains have physically changed) hoặc ít nhất lối tư duy (thinking patterns) của các em cũng đã khác. Lý giải cho điều này, Prensky đi sâu vào phân tích những tác động của tiến bộ công nghệ lên một thế hệ mới mà người ta vẫn hay dùng những thuật ngữ như thế hệ N hay thế hệ D ( N-[for Net]-gen or D-[for digital]-gen). Tuy nhiên, như đã đề cập bên trên, Prensky gọi thế hệ người học này là dân bản địa thời đại số (digital natives) để có thể so sánh với dân nhập cư thời đại số (digital immigrants). Chính vì vậy, vấn đề lớn nhất mà nền giáo dục (ám chỉ Hoa Kỳ tại thời điểm đó) đang phải đối mặt chính là thế hệ người dạy thuộc dân nhập cư thời đại số đang sử dụng một ngôn ngữ lỗi thời (ngôn ngữ trước thời đại số), trong khi đang vật lộn để dạy một thế hệ nói một ngôn ngữ hoàn toàn mới. (ám chỉ cách suy nghĩ & xử lý thông tin của thế hệ mới đã hoàn toàn khác), (nguyên văn: It’s very serious, because the single biggest problem facing education today is that our Digital Immigrant instructors, who speak an outdated language (that of the pre-digital age), are struggling to teach a population that speaks an entirely new language.).

Để làm sáng tỏ hơn cho lập luận của mình, Prensky (2001b) còn viết riêng một bài báo khác để chứng tỏ thế hệ người học mới thực sự đã tư duy khác Think Differently). Dẫn chứng của ông được lấy từ các lĩnh vực khác nhau như sinh học não bộ, tâm lý học xã hội, học qua mô phỏng (game-based learning). Thứ nhất là tính dẻo của não bộ/tính linh hoạt của cơ quan thần kinh (neuroplasticity), theo đó não bộ của con người không cố định mà luôn phát triển dựa vào kinh nghiệm, môi trường sống của mỗi người. Chính vì thế với những trải nghiệm khác nhau thì não bộ cũng phát triển theo những cách khác nhau. Những ai quan tâm tới lĩnh vực này thì đều có thể biết, một trong những nghiên cứu hay được sử dụng để nói về tính dẻo của não bộ là công trình của Maguire và cộng sự (2006). Các nhà nghiên cứu đã chụp cộng hưởng từ não bộ của những tài xế taxi & xe buyt ở Luân Đôn. Họ đem so sánh lượng chất xám ở vùng đồi thị/hồ hải mã (gray matter volume differences in the hippocampus) của hai nhóm này. Kết quả cho thấy, so với những người lái xe buyt thì tài xế taxi có lượng chất xám nhiều hơn ở khu vực giữa sau vùng đồi thị và ít hơn ở khu vực trước vùng đồi thị (compared with bus drivers, taxi drivers had greater gray matter volume in mid-posterior hippocampi and less volume in anterior hippocampi). Thêm vào đó, số năm kinh nghiệm điều hướng tương quan với lượng chất xám ở vùng đồi thị chỉ tìm thấy ở người lái taxi. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng, chính là tri thức về không gian (thu được từ trải nghiệm lái ở nhiều tuyến đường, con phố) mới liên quan tới lượng chất xám của vùng đồi thị của tài xế taxi chứ không phải là các yếu tố khác như căng thẳng, kỹ năng lái…Trở lại với dẫn chứng của Prensky, ông cho rằng kinh nghiệm sống không chỉ dừng lại ở việc có thể làm thay đổi não bộ một cách cơ học (physically) qua tính dẻo (neuroplasticity) mà còn tác động đến lối tư duy (thinking patterns) thông qua cơ chế malleability (dễ uốn nắn). Nghiên cứu từ các nhà tâm lý học xã hội đã cho thấy những người lớn lên trong những nền văn hóa khác nhau thì cũng có lối tư duy khác nhau. Chính môi trường tự nhiên và văn hóa xã hội đã ảnh hưởng, thậm chí còn quyết định rất nhiều đến quá trình tư duy của con người. Nhận định này cũng hoàn toàn có cơ sở và dễ thấy. Đơn cử một ví dụ, hãy kiểm tra xem bạn hình dung điều gì trong đầu khi nghe thấy từ zoom in/zoom out, đặc biệt là những người dùng màn hình cảm ứng trong những năm gần đây. Có phải hình hai ngón tay (ngón trỏ và ngón cái) đang tách hoặc chụm vào nhau hay không? Prensky cũng đưa ra những kiến giải khác về khả năng tập trung (attention spans) và những điều mà các nhà giáo dục bỏ sót.

Có thể nói rằng, thời điểm năm 2001 Prensky đưa ra những kiến giải này thực sự rất đáng trân trọng và mang lại rất nhiều cảm hứng cũng như kích thích sự thay đổi, đặc biệt đối với những người làm công tác giáo dục khi họ phải nghĩ lại về một thế hệ người học trong thời đại mới. Tuy nhiên, những nhận định có tính trao truyền cảm hứng và ảnh hưởng không đồng nghĩa với việc nó phản ánh đúng thực tế và được dựa trên bằng chứng khoa học. Điều dễ thấy nhất trong lập luận của Prensky là ông chỉ dựa vào bối cảnh của Hoa Kỳ để đưa ra những nhận định và kiến giải này (cũng có thể đó là mục đích chính/ban đầu và đối tượng đọc giả của ông), do vậy cách phân loại bản địa-nhập cư trong đời sống số của người học không hoàn toàn phù hợp với những bối cảnh khác, đặc biệt là một số quốc gia đang phát triển những năm gần đây. Nguy hại hơn là rất nhiều người làm công tác giáo dục vô tình vận dụng những nhận định này để thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục trong khi người học trên thực tế có rất ít trải nghiệm với thiết bị số, hoặc ít nhất không đồng đều nhau ở các khu vực khác nhau. Điều này còn chưa kể đến những trải nghiệm với thiết bị số hoặc một vài ứng dụng không nhất thiết có thể chuyển đổi tự động (automatically transferable) sang các yêu cầu khác nhau trong quá trình dạy-học, và tư duy. Những người nhiệt thành với công nghệ thì luôn cho rằng đó là nhân tố quyết định, tạo một cuộc cách mạng thực sực trong giáo dục thể kỷ 21. Tuy nhiên, việc ủng hộ nhiệt thành mà thiếu đi tinh thần phản biện thì vô tình họ trở thành những nhà tiếp thị miễn phí cho các hãng công nghệ. Đã không ít người viết về việc phóng đại, thổi phồng những tác động mà công nghệ có thể mang lại cho giáo dục (xem thêm Walker, 2015; Hill, 2014; Edutopia, 2014Shwiff & Larkin, 2013). Ở góc độ lô-gic, cách phân loại bản ngữ-nhập cư trong dạy-học ngoại ngữ có thể là một phép ẩn dụ tốt nhưng nó không hoàn toàn đúng/đồng chất với đời sống công nghệ số (nguyên tắc đồng chất trong lô-gic). Việc đánh đồng phẩm chất của một thế hệ dựa vào một yếu tố công nghệ và thời điểm sinh trưởng trong một bối cảnh nhất định như vậy là rất ngây thơ (naive) vì nhận định đó bỏ qua rất nhiều những yếu tố khác, đặc biệt là bản sắc, sở thích, cảm hứng của mỗi cá nhân. Chính vì vậy, chúng ta cần một cách phân loại tốt hơn.

10 năm sau bài viết của Prensky, White & Le Cornu (2011) đã đưa ra một cách phân loại rất đáng tham khảo, đăng trên tạp chí  bình duyệt mở First Monday. Theo đó hai tác giả này đã đánh giá lại (critique) nhận định của Prensky đồng thời đề xuất một phép ẩn dụ mới (địa hạt vs. công cụ/place vs. tool) và cách phân loại mới (chủ vs. khách/residents vs. visitors). Dạng thức mới này cho phép chúng ta nhận định được mức độ tham gia của người dùng trong đời sống công nghệ, đặc biệt kể từ khi xuất hiện mạng xã hội trực tuyến. White & Le Cornu trích dẫn một vài nội dung phản biện nhận định của Prensky bao gồm: (1) dù một phần những người  trẻ hiện nay rất thạo công nghệ nhưng còn một phần lớn không có chung mức độ tiếp cận; (2) mức độ thạo công nghệ cũng có sự biến thiên ngay đối với dân bản địa thời đại số (digital natives) và giữa các thế hệ với nhau (giữa digital natives và digital immigrants); (3) việc dùng công nghệ cũng có nhiều mục đích khác nhau, có thể người dùng thông thạo với việc giải trí số nhưng không có nghĩa là dùng hiệu quả thiết bị số để học tập hiệu quả. Như hai tác giả chia sẻ, nhận định của Prensky ra đời từ 2001 thời điểm khi mà chưa xuất hiện các trang mạng xã hội. Máy tính và các ứng dụng thời điểm đó chủ yếu đóng vai trò chức năng để quá trình làm việc, học tập, giải trí của con người trở lên thực sự hiệu quả hơn. Với ngày càng nhiều những mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, công nghệ thực sự nhập cuộc, tham gia vào đời sống xã hội của con người, nó là một phần trong đời sống xã hội vậy. Nếu như trước đây công nghệ đóng vai trò như một công cụ hỗ trợ (tool) thì giờ đây nó có thể được tiếp cận như một không gian hay một địa hạt thực sự (space/place). Nội hàm ý nghĩa về không gian này cũng có sự thay đổi so với cách hiểu truyền thống. Nó không chỉ đơn giản là việc có một tên miền, hosting hay là hình ảnh cá nhân được xuất hiện trên mạng toàn cầu nữa mà  không gian theo cách diễn giải của hai tác giả, là nơi mà người tham gia có cảm giác hiện tiền trực tiếp với những người khác (a sense of being present with others). Có những công cụ giúp mọi người cộng tác với nhau như Google docs hay skype…nhưng những ứng dụng này vẫn chưa thực sự là một không gian cụ thể mà người dùng thực sự sống với nó. Dễ dễ hiểu hơn, chúng ta có thể tiếp cận theo một thói quen sinh hoạt hàng ngày của nhiều người xưa nay. Đối với nhiều người Âu thì quan bar (Mỹ) hay pub (Anh) là một nơi rất gắn bó với họ, một nơi rất quen thuộc và là một phần trong đời sống xã hội của họ. Đối với người Việt thì có để đó là cây đa, giếng nước mái đình xưa kia nam thanh nữ tú tụ tập, hẹn hò, hay đơn giản là một quán cafe mà một nhóm bạn yêu thích tụ tập chém gió. Cho nên, không gian/địa hạt hai tác giả đề cập chính là không gian sinh hoạt xã hội thực sự của người tham gia. Từ cách hiểu này, White & Le Cornu đi tới việc phân loại mức độ tham gia vào đời sống kỹ thuật số qua việc hiểu người dùng như là “khách” (visitors) hoặc “chủ” (residents).

Những người dùng coi công nghệ, dù ở hình thức nào đi nữa, cũng đơn thuần chỉ là công cụ giúp họ giải quyết những vấn đề cụ thể mà thực tế đặt ra được White & Le Cornu gọi là khách thăm viếng (visitors). Họ không có mục đích duy trì một hồ sơ cá nhân hay hình ảnh cá nhân trên không gian số. Họ chỉ tập trung vào những công cụ hữu ích và giúp họ trở nên hiệu quả hơn. Mặc dù họ vẫn sử dụng những ứng dụng khác nhau như gmail hay skype để duy trì các mối quan hệ xã hội nhưng việc dành thời gian để tạo lập và duy trì một hình ảnh số thì họ thường cân nhắc hơn, hoặc nếu có cũng chỉ để nhằm kết nối khi cần thiết. Đơn cử một ví dụ, rất nhiều người không ưa dùng facebook nhưng vì nhiều bạn bè hoặc người quen dùng nên họ cũng tạo một tài khoản để kết nối nhưng hiếm khi hoặc hầu như không chia sẻ điều gì lên đó. Ngược lại, đối với nhiều người dùng, họ coi mạng là một không gian thực sự, họ chia sẻ một phần đời sống xã hội lên đó để kết nối với bạn bè đồng nghiệp. Ranh giới giữa đời sống truyền thống (offline) và trực tuyến (online) ngày càng trở lên mờ nhạt. Họ thích lên mạng vì ở đó họ có thể kết nối với bạn bè hay đơn giản cảm thấy gắn bó, thuộc về một cộng đồng hay một nhóm trên đó. Những người này thực sự sống một cuộc sống trên mạng và White & Le Cornu gọi họ là cư dân hay “chủ” (residents). Cũng chính vì điều này mà việc phân chia đời sống thực và đời sống ảo đôi khi cũng cần cân nhắc lại.

Dù việc phân loại theo hai thái cực như vậy nhưng hai tác giả cũng chỉ ra, trên thực thế việc dán nhãn tất cả vào nhóm này hay nhóm khác là cực đoan, ngược lại nó luôn tồn tại sự giao thoa giữa hai thái cực.

3171-30880-1-PB

nguồn: White & Le Cornu (2011)

 Đối với một số người có thể họ chỉ thích làm khách viếng thăm, sử dụng mạng xã hội như một công cụ và không muốn để lại dấu chân điện tử trên không gian số. Nhưng một số người thì đời sống trực tuyến cũng là một phần đời sống xã hội của họ. Họ trực tuyến 24/7, tiếp nhận tất cả các thông tin trong mạng xã hội của họ. Nhưng cũng còn rất nhiều người thuộc vào phần giữa như White & Le Cornu mô tả bằng ô màu xanh.

Cách phân loại này có ý nghĩa rất thực tiễn, đặc biệt trong giáo dục khi chúng ta cần có cách tiếp cận phù hợp với các đối tượng người học khác nhau. Có những người học họ thích ở nhóm “khách” mà chúng ta triển khai công nghệ dạy học như thể họ thuộc nhóm “chủ” thì rất không hiệu quả và ngược lại. Rõ ràng đây chính là một sự thỏa hiệp giữa người học và người dạy. Không phải tất cả người dạy đều coi công nghệ như một công cụ, có những người thực sự sống với nó. Chính vì thế những người làm quản lý giáo dục cũng nên có những chiến lược phù hợp với từng hoàn  cảnh cụ thể, mục tiêu cụ thể thay vì chủ quan, duy ý chí áp đặt mong muốn của một vài người hay một nhóm người, cho dù những nhận định đó đầy cảm hứng và mang tầm chiến lược (nhưng đồng thời cũng đầy thiên kiến và thiếu cơ sở khoa học). Ở một góc độ khác, phải chăng chúng ta cũng nên nhìn lại khi cho rằng những gì diễn ra trực tuyến chỉ là đời sống ảo, chính vì cách nhìn nhận đó mà chúng ta đưa ra những khuyến cáo và những kiến giải chưa phù hợp. Ví dụ, một số người họ coi mạng xã hội là đời sống thực sự của họ (chủ) và chia sẻ tất cả những gì thuộc về họ nhưng một số người lợi dụng ngôi nhà không rào đó để lấy cắp thông tin và bêu rếu họ. Nếu cho rằng vì đó là thế giới ảo vậy thì thực tế trong thế giới thật cũng đâu thiếu kẻ cắp vặt, kẻ tống tiền và người buôn chuyện. Nếu chúng ta chỉ khuyên răn người dùng nên tiết chế khi chia sẻ thì có phải chúng ta lại dung dưỡng, khuyến khích những kẻ xấu trong xã hội (ảo). Có lẽ chúng ta cần một chuẩn mực đạo đức mới: đạo đức số (digital ethics), đây không chỉ là vấn đề của người dùng mà là vấn đề ứng xử của một cộng đồng chung sống với nhau trực tuyến.

Advertisements

4 thoughts on ““Chủ” & “Khách” trong đời sống công nghệ

  1. Hôm nay m đọc đc 1 câu khá hay “Dont limit your child to your own learning, for he was born in another time” (Tagore) trích dẫn trong 1 q sách của Salma Khan.

  2. Then, so what? Nghĩa là như thế nào cô Điểm ơi? Salma Khan, sáng lập ra Khan Academy có viết cuốn The One World Schoolhouse: Education Reimagined. Mô hình của Khan cũng tạo lên một cơn sốt giáo dục giống như MOOCs, rồi Việt Nam cũng có kiểu tương tự như Giap School. Trước thì em rất thích đọc những cuốn kiểu inspiring như vậy, nhưng giờ vẫn đọc nhưng question nhiều hơn.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s