Lăng kính chủ nghĩa (lens-ism)

Phải thừa nhận một điều rằng hầu hết chúng ta đều “đeo kính”, một cách nói ẩn dụ cho việc quan sát/nhận biết thực tế qua một màng lọc, hay còn được gọi là lăng kính. Theo cách định nghĩa của một trang từ điển trực tuyến, lăng kính vừa có nghĩa đen, vừa có nghĩa phái sinh và đều là danh từ:

  • lăng kính (n) khối thuỷ tinh hoặc tinh thể trong suốt hình lăng trụ ba mặt, có tính chất làm lệch các tia sáng và phân tích một chùm sáng thành quang phổ
  • lăng kính (n) cách nhìn, quan điểm của mỗi người [thường chủ quan, ít nhiều sai lệch]

Mỗi người khi sinh ra không chỉ thừa hưởng những phẩm chất có sẵn từ gen của cha mẹ, mà còn được nuôi dưỡng và trưởng thành trong những không gian văn hóa-xã hội rất riêng (unique). Bên cạnh những phẩm chất có tính bản năng kiểu “cha sinh con, trời sinh tính” thì mỗi người lại là một chủ thể độc lập, tự thân tiếp cận thế giới bên ngoài theo nhiều cách khác nhau. Nếu làm một phép toán đơn giản bằng cách tính tổ hợp tất cả những yếu tố (bên trong và bên ngoài) tác động tới sự phát triển của một người thì chúng ta có thể thấy được tính đa dạng và siêu đa dạng ở mỗi cá thế trong những cộng đồng khác nhau. Bên cạnh những phẩm chất chung thì mỗi người lại có bản sắc của riêng mình. Chính vì lẽ đó mà họ cũng tiếp cận thực tế bên ngoài không theo cách giống nhau ngay từ khi mới sinh ra. Chớ trêu thay, mỗi người lại không ngừng ảnh hưởng người khác để sao cho họ có thể chia sẻ cùng lăng kính. Có được như vậy mới có sự đồng thuận và liên hiệp. Tư tưởng, quan điểm của mỗi cá nhân khi giống nhau ở một khía cạnh nào đó, họ hợp thành một nhóm, ở cấp độ cao hơn thì đó cả là một hay nhiều ý thức hệ khác nhau. Ý thức hệ giống nhau thì sẽ dễ dàng liên hiệp được với nhau, nhưng cũng phải thừa nhận rằng, nếu như mỗi người chính là một thế giới riêng có tính duy nhất thì ngoài kia cũng có hàng vạn lối suy nghĩ, hệ ý thức khác nhau.

Trong suốt chiều dài lịch sử, thông qua việc giao tiếp và ảnh hưởng, những người có tư tưởng, lối suy nghĩ gần nhau thì tạo lập những cộng đồng để duy trì những sinh hoạt chung, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những cộng đồng này không chỉ duy trì hệ ý thức mà còn tìm mọi cách để lan tỏa nó sang những cộng đồng khác nhau thông qua nhiều con đường khác nhau. Quá trình đó diễn ra liên tục, không ngừng và đôi khi còn được thực hiện một cách vô thức. Nó được truyền một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, thông qua các sinh hoạt trong đời sống xã hội, từ văn học, nghệ thuật đến thể chế, giáo dục, khoa học kỹ thuật…

Với sự bùng nổ của thông tin ngày nay, xã hội mà chúng ta đang sống được gọi là kỷ nguyên thông tin mà nền kinh tế được xây dựng trên nền tảng kiến thức khổng lồ, nhờ sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật mang lại, là nền kinh tế tri thức. Thế nhưng đổi lại cũng không biết có bao nhiêu luồng tư tưởng khác nhau, thông tin khác nhau tràn ngập, đặc biệt kể từ khi việc trao đổi thông tin trên toàn cầu dễ dàng hơn bao giờ hết. Không phải tận mắt chứng kiến nhưng một người ở nơi A vẫn có thể biết được  một sự việc ở đâu đó do một người khác kể lại ở nơi Z. Một ví dụ đơn giản là một người sẽ nảy sinh những cảm xúc, những nhận định khi tiếp cận thực tế qua một người khác. Một cách vô thức, mỗi người tiếp cận lăng kính mới mà không biết rằng cách nhìn đó rất khác xa thực tế và đầy thiên kiến. Ngay cả việc bạn đọc những dòng chữ này cũng là một hoạt động ảnh hưởng tới lăng kính của mình, dù theo chiều hướng nào đi chăng nữa.

Cũng vì lẽ đó mà mỗi người cần cẩn trọng hơn, suy xét hơn khi tiếp cận & chính vì mỗi người đều nhìn thực tế theo những lăng kính khác nhau cho nên (1) cần tường minh, biết rõ mình đang sử dụng lăng kính nào khi đưa ra các nhận định đánh giá; (2) nhận ra người khác đang tiếp cận một vấn đề theo lối tư duy nào, niềm tin nào, hệ ý thức nào. Marcus Aurelius, một hoàng đế La Mã cổ đại, đồng thời cũng là một triết gia nhận định: “Mọi điều chúng ta nghe chỉ là một ý kiến, không phải thực tế. Mọi thứ chúng ta thấy là một góc nhìn, không phải chân lý”.

Lăng kính chủ nghĩa
Lăng kính chủ nghĩa

Nói như vậy liệu có phải tôi đang tuyên truyền chủ nghĩa hư vô, chẳng có gì là thực, mọi thứ phải chăng đều là ảo mộng? Thực tế vẫn là thực tế, có những lăng kính giúp ta gần thực tế hơn, nhưng cũng có những lăng kính làm cho thực tế bị méo mó, hư ảo cho dù đôi khi sự phản chiếu ấy cũng lung linh, thu hút. Bản chất của cái lối tư duy phản biện (critical thinking) cũng là ở khía cạnh này, biết rõ rằng mọi vấn đề đều được tiếp cận theo những lăng kính khác nhau thì đừng bao giờ chấp nhận một cách thụ động, thay vào đó phải không ngừng hoài nghi và tìm kiếm những lăng kính mới. Có như vậy thì mỗi người mới nhận biết thực tại được gần hơn.

Lăng kính của tôi khi viết bài này: “Nhất thuyết duy tâm tạo”, và chỉ cần vứt bỏ những lăng kính thì mỗi người sẽ thấy được cái KHÔNG và cái SẮC (bản chất) của vạn vật mà không còn thiên kiến. Dù không bỏ thì cũng cần nhìn thực tế bằng nhiều lăng kính khác nhau và khoan dung hơn khi có những điều khác biệt (ngang tai, trái mắt).

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s