Học tập đa phương tiện: Ngộ nhận & thực tế

Tình cờ đọc một vài bài viết than phiền về việc sử dụng phần mềm trình chiếu powerpoint và nên chăng chúng ta cấm không cho giáo viên sử dụng (TheConversation, 2015), hay tiêu đề còn giật gân hơn như PowerPoint giết chết tư duy phản biện (Smith, 2015), tôi thấy mình nên chia sẻ một điều gì đó. Lại là một vấn đề muôn thủa vì chúng ta vẫn đang loay hoay với công cụ mà không chịu tập trung vào bản chất của vấn đề. Đáng buồn hơn nữa là chúng ta so sánh phương pháp “truyền thống” với phương pháp có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, hay so sánh các ứng dụng công nghệ thông tin với nhau. Ví dụ như việc so sánh lớp học thông thường chỉ có giáo viên và bảng phấn với lớp học được trang bị máy chiếu, màn hình; hay so sánh hiệu quả của prezi với powerpoint hay với các phần mềm trình chiếu khác. Xa hơn nữa là tiếp cận công nghệ thông tin trong giáo dục từ nhiều khung lý luận khác nhau, đưa ra những kiến giải khác nhau nhưng tựu chung lại vẫn không giải quyết được vấn đề thực tế hoặc giúp cho cách làm hiện tại trở lên hoàn thiện hơn. Một ví dụ điển hình là việc nghiên cứu tương tác con người-máy tính qua lối tiếp cận tri nhận-xã hội (sociocognitive) rồi đến văn hóa-xã hội (socio-cultural) khi mà máy tính chỉ là công cụ trung gian (CMC). Tất cả những cách tiếp cận hàn lâm này đều thú vị, nhưng câu hỏi đặt ra là “rồi sao nữa?”

Có lẽ một trong những nguyên nhân dẫn tới sự phổ biến rồi thoái trào của một số công nghệ trong giáo dục chính là đặc tính mới mẻ của nó đem lại (novelty effects). Khi một công nghệ mới ra đời, cho dù mục đích chính là giúp cải thiện chất lượng dạy và học thì người ta đón nhận nó như một phép màu, cho rằng nó có khả năng giải quyết được những vấn đề thực tế. Khi đó, những nhà quản lý, giáo viên, học sinh hồ hởi đón nhận, một phần vì nó đem lại luồng cảm hứng mới, một phần cũng do những tính năng mà nền tảng cũ không có. Như vậy, đôi khi người ta tiếp nhận nó, tán thưởng nó chỉ bởi vì những thỏa mãn hiện tại. MOOCs là một ví dụ điển hình trong những năm gần đây. Nếu như các nghiên cứu nhằm vào việc tìm hiểu hành vi, thái độ, nhận thức…của người sử dụng qua phỏng vấn, khảo sát thì đôi khi kết quả rất lạc quan. Nhưng nếu đánh giá xem nó có thực sự giúp người học HỌC hay không thì lại là một vấn đề hóc búa. Khó khăn thứ nhất là làm sao có thể định nghĩa, vận hành (operationalize) được nội hàm khái niệm “học”. Học là gì? Khi nào học sinh A học và khi nào không? Khó khăn tiếp theo là xây dựng được bộ công cụ tin cậy, chuẩn xác (reliable & valid) để đo được hành động “học” đó cũng không hề dễ dàng. Chính vì thế, dù nhiều nghiên cứu được triển khai, báo cáo đầy lạc quan nhưng chưa thể chạm vào được bản chất của vấn đề hay đơn giản mới chỉ xem xét được những yếu tố ảnh hưởng tới việc học chứ chưa nghiên cứu được việc học thực sự có diễn ra hay không, có hiệu quả hay không. Một ví dụ rất điển hình là khi chúng ta chạy thử nghiệm một chương trình, lấy phản hồi của người học thì kết quá rất hài lòng, người học được tiếp cận cái này, cái kia, tương tác với bạn bè vv…Cũng giống như facebook, giúp chúng ta kết nối, cập nhật thông tin…rất thuận tiện và thái độ lẫn hành vi đều cho thấy FB được ưa chuộng, nhưng thực sự FB có làm chúng ta trở lên tốt hơn hay không? hiệu quả hơn hay không thì cũng còn nhiều tranh luận.

Câu chuyện về sử dụng PowerPoint cũng như những câu chuyện tương tự trong giáo học pháp ngoại ngữ khi mà có nhiều đường hướng, phương pháp nở rộ, được giáo viên và người học đón nhận, một thời gian sau thì thoái trào bởi rất nhiều lý do. Sở dĩ như vậy là vì chúng ta chưa hiểu rõ quá trình học một ngôn ngữ mới diễn ra thế nào. Có hàng chục lý luận khác nhau, cách kiến giải khác nhau, nhưng tựu chung, nó giống như chuyện thầy bói xem voi khi mà mỗi cách tiếp cận chỉ chạm được vào một phần của vấn đề rộng lớn, bao quát và liên quan lẫn nhau.

10 năm trước đây, trong một cuốn sách chuyên khảo về học tập đa phương tiện (multimedia learning), Clark & Feldon (2005) đã chỉ ra 5 ngộ nhận mà rất nhiều người, kể cả những người làm nghiên cứu trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ vẫn tin vào trong khi thiếu cơ sở từ những nghiên cứu thực nghiệm. Khi nói tới đa phương tiện, định nghĩa về phương tiện cần được làm sáng tỏ. Phương tiện dạy học muốn nói tới công cụ trình bày và truyền tải thông tin. Đơn cử vài ví dụ như máy tính, sách giáo khoa, tivi, đài báo và người dạy. Đa phương tiện thường đề cập tới khả năng bao quát hầu hết những phương tiện riêng lẻ qua máy tính hoặc internet, kết hợp được kênh hình, kênh chữ, kênh tiếng…Và khi xuất hiện phương thức học tập đa phương tiện, người ta tin rằng: (1) học tập đa phương tiện sẽ giúp học được nhiều hơn so với phương pháp trực tiếp qua việc giáo viên đứng lớp hoặc qua các phương tiện khác; (2) học tập đa phương tiện tạo động lực tốt hơn so với cách truyền tải thông tin truyền thống; (3) học tập đa phương tiện cho phép tạo ra những nhân vật hoạt hình sư phạm (amimated pedagogical agents), vì vậy hỗ trợ, cải thiện việc học; (4) đáp ứng được các phong cách học tập khác nhau, vậy nên tối đa hóa việc học của sinh viên; (5) tạo điều kiện cho người học tiếp cận theo hướng kiến tạo và khám phá, có lợi cho việc học. Trong lần tái bản thứ hai của cuốn chuyên khảo này, Clark (2014) lại bổ sung thêm 5 ngộ nhận thường gặp khác: (6) học tập đa phương tiện nâng cao khả năng tự chủ (autonomy) và kiểm soát được tiến trình học tập; (7) thúc đẩy tư duy bậc cao; (8) tiếp thụ thông tin phong phú một cách tự nhiên/incidental learning; (9) tính tương tác cao; (10) tạo môi trường và hoạt động học tập thực tế. Chỉ cần lên mạng đọc lướt một vài bài viết hoặc tìm hiểu chia sẻ của một vài “tín đồ” công nghệ, chúng ta dễ thấy những ngôn ngữ đao to búa lớn, tràn đầy hy vọng. Việc này không có gì xấu, nhưng rõ ràng đôi khi nó mang nhiều cảm hứng tới mức chúng ta quên việc phản biện, một cách tư duy mà gắn liền với từ khóa “critical thinking”, ngày trở lên phổ biến tới mức độ kinh ngạc bắt đầu từ những năm 2000 tới nay (tham khảo Ngram).

Tương tự như vậy, chính vì tính mới mẻ của công nghệ và bản năng ưa khám phá của con người mà đôi khi những người nhiệt thành chỉ đọc, chỉ nghe những gì mà phù hợp với niềm tin với cách tiếp cận của họ. Một trong những cuốn sách rất giá trị nói về học tập đa phương tiện qua cách tiếp cận nhận thức mà ít khi được nhiều người đề cập đến là cuốn “Multimedia Learning” xuất bản năm 2001 và được tái bản, bổ sung năm 2009, tác giả Richard E. Mayer, một trong những người hùng ở lĩnh vực này. Trong cuốn sách này, Richard E. Mayer đã đưa ra 12 nguyên tắc học tập đa phương tiện mà nếu như giáo viên, chuyên viên tiếp cận được thì sẽ giảm thiểu được nhiều tranh luận không cần thiết về vấn đề công cụ như dùng hay không dùng PowerPoint như đề cập ở trên.  12 nguyên tắc được trình bày độc lập với nhau trong cuốn sách xuất bản năm 2001, trong lần bái bản thứ hai, 12 nguyên tắc được xếp vào 3 nhóm: (1) các nguyên tắc giảm nhiễu (extraneous reducing); (2) các nguyên tắc quản lý việc xử lý thông tin; (3) các nguyên tắc thúc đẩy việc học tiến tạo/sinh thực generative learning. Điều cần lưu ý là trong các nguyên tắc, Mayer sử dụng “words” và “pictures” để bao quát tất cả các thông tin ở dạng ngôn ngữ (tiếng nói & chữ viết) và dạng hình ảnh (tranh, ảnh, đồ họa,…).

Lý thuyết nhận thức của học tập đa phương tiện (Nguồn: Mayer, 2009, p. 61); Ai quan tâm có thể tìm đọc thêm về dual-coding (Paivio, 1986; Baddeley, 1992), limited capacity (Baddeley, 1992; Chandler & Sweller, 1991), active processing (Mayer, 2008; Wittrock, 1989), cognitive load (Sweller, 1988)

Dưới đây là 12 nguyên tắc được phỏng dịch và diễn giải bổ sung qua mục liên hệ:

1. Nguyên tắc mạch lạc: Chúng ta học tốt hơn khi những từ ngữ, hình ảnh, âm thanh tạp (không liên quan) bị loại bỏ thay vì được thêm vào. Coherence Principle/People learn better when extraneous words, pictures and sounds are excluded rather than included.

Liên hệ: nguyên tắc này cũng giống với một nguyên tắc trong thiết kế/tư duy thiết kế “bớt là thêm/Less is more“. Khi trình bày bằng PowerPoint mà giáo viên lặp lại những gì đã “chiếu”  ở trên màn hình thì như vậy là thừa; chèn những hiệu ứng vui nhộn không phục vụ mục đích dạy-học cũng là tạp nham; sử dụng đa màu sắc mà chẳng để nhấn mạnh nội dung gì cũng là cách làm thiếu hiểu biết.

2. Nguyên tắc tín hiệu: Chúng ta học tốt hơn khi việc tổ chức những thông tin quan trọng được nhấn mạnh nhờ các dấu hiệu. Signaling Principle/People learn better when cues that highlight the organization of the essential material are added.

Liên hệ: khả năng chú ý và ghi nhớ của con người có giới hạn vậy niên việc tổ chức thông tin một cách có hệ thống, logic và sử dụng các phương pháp khác nhau giúp người học nhận ra là vô cùng cần thiết. Khi thiết kế trang chiếu, cỡ chữ, phông chữ, màu sắc nhất quán cho các tiêu đề cũng sẽ giúp người học tiếp nhận thông tin tốt hơn. VD trong bài trình bày sử dụng hai màu chủ đạo, xanh thẫm và xanh non, xanh thẫm dành có các ý chính, xanh non dành có các ví dụ, ý bổ sung…như vậy người tiếp nhận sẽ dễ dàng phân biệt hơn qua việc tổ chức thông tin bằng màu sắc.

3. Nguyên tắc dư thừa: Chúng ta học tốt hơn từ đồ họa/hình ảnh kết hợp với diễn giải bằng lời nói thay vì đồ họa, diễn giải, lại thêm chữ trên màn hình. Redundancy Principle/People learn better from graphics and narration than from graphics, narration and on-screen text.

Liên hệ: một thói quen rất phổ biến của nhiều giáo viên khi sử dụng PowerPoint là “chiếu” hết những gì định nói lên màn hình, thậm chí đọc lại những gì đã chiếu, thật nhàn hạ cho giáo viên :(. Các nghiên cứu của Mayer cho thấy chúng ta xử lý thông tin chủ yếu qua hai kênh: kênh hình ảnh (pictorial) và kênh ngôn ngữ (verbal), vậy nên khi đã nói rồi mà còn bắt người tiếp nhận đọc thì xảy ra việc quá tải (cognitive overload) vì cả hai nguồn này đều đi vào khu vực xử lý ngôn ngữ (verbal). Tương tự như vậy, việc giảng bài trực tuyến mà đã có màn hình, lại chèn thêm video của người nói ở một góc màn hình là rườm rà vì người tiếp nhận phải phân bổ khả năng chú ý cho các chi tiết trên màn hình, video của người nói, giọng nói, và đôi khi cả chữ viết nữa. Như vậy người tiếp nhận vừa bị quá tải kênh hình ảnh (màn hình + video người nói) và kênh ngôn ngữ (giọng nói + chữ viết).

4. Nguyên tắc tiếp giáp (không gian): Chúng ta học tốt hơn khi chữ và hình ảnh tương ứng được trình bày ở gần nhau thay vì cách xa nhau ở trên một trang hoặc màn hình. Spatial Contiguity Principle/People learn better when corresponding words and pictures are presented near rather than far from each other on the page or screen.

Liên hệ: giống như nguyên tắc tương cận (proximity) trong thiết kế đồ họa và tư duy thiết kế, những thứ thuộc về nhau, liên quan tới nhau thì nên để gần với nhau để giúp người tiếp cận dễ dàng nhận ra mối liên hệ của chúng. Đây cũng là cách tư duy về mặt không gian, nếu chúng ta chú ý một chút sẽ thấy những dòng chữ này thuộc về mục liên hệ và nó cũng có một khoảng cách tương đối với mục nguyên tắc. Trong khi thiết kế trang chiếu cũng vậy, những hình ảnh mà gắn với khái niệm/từ khóa nào thì cũng cần được để gần nhau, giúp người tiếp nhận nhận ra mối liên hệ dễ dàng hơn thay vì phải suy luận và tự kết luận.

5.  Nguyên tắc tiếp giáp (thời gian):  Chúng ta học tốt hơn khi chữ và hình ảnh được trình bày đồng thời thay vì liên tiếp. Temporal Contiguity Principle/People learn better when corresponding words and pictures are presented simultaneously rather than successively.

Liên hệ: Điều rất dễ thấy là khi giáo viên trình bài một khái niệm, dùng  hiệu ứng cho hình chạy ra trước, rồi từ khóa xuất hiện sau thay vì nhóm chúng vào với nhau, cho xuất hiện đồng thời.

6. Nguyên tắc phân khúc: Chúng ta học tốt hơn khi một bài học đa phương tiện được trình bày thành các phân đoạn, phù hợp với nhịp độ của người dùng thay vì trình bày chúng thành một bài liên tục. Segmenting Principle/ People learn better from a multimedia lesson is presented in user-paced segments rather than as a continuous unit.

Liên hệ:

7. Nguyên tắc tiền tập: Chúng ta học tốt hơn từ một bài học đa phương tiện khi chúng ta biết tên gọi và các đặc điểm của những khái niệm chính. Pre-training Principle/People learn better from a multimedia lesson when they know the names and characteristics of the main concepts.

Liên hệ: Giống như trong một bài dạy về kỹ năng đọc (ngoại  ngữ), giáo viên có thể cung cấp những từ khóa, từ mới và những cấu trúc mà người học chưa biết để quá trình đọc trở lên hiệu quả hơn.

8. Nguyên tắc thể thức: Chúng ta học tốt hơn từ hình ảnh và tường thuật (giọng nói) thay vì hoạt hình và văn bản trên màn hình. Modality Principle/People learn better from graphics and narrations than from animation and on-screen text.

Liên hệ: Việc nghe ai đó nói, kết hợp với việc minh họa bằng cử chỉ điệu bộ, hình ảnh sẽ hiệu quả hơn hoạt họa và văn bản trên màn hình. Hai thể thức sau không gần gũi, thân thiện với con người.

9. Nguyên tắc đa phương tiện: Chúng ta học tốt hơn từ chữ và hình ảnh thay vì chỉ học từ mỗi kênh chữ thông thường. Multimedia Principle/ People learn better from words and pictures than from words alone.

10. Nguyên tắc cá nhân hóa: Chúng ta học tốt hơn từ các bài học đa phương tiện được khi kênh ngôn ngữ được trình bày qua trong cách hội thoại thay vì phong cách trang trọng. Personalization Principle/ People learn better from multimedia lessons when words are in conversational style rather than formal style.

Liên hệ: Khi xuất hiện phương thức đào tạo từ xa, các bài giảng được ghi hình đóng gói, rất nhiều khóa học tôi xem thì thấy giáo viên ngồi ở trong phòng thu, rất trang trọng và nghiêm túc đọc hoặc giảng bài. Vô hình chung, các làm này tạo ra khoảng cách đối với người học, không tạo ra sự kết nối giữa người với người. Chúng ta kết nối dễ dàng hơn qua những câu chuyện và chia sẻ thân tình thay vì việc giữ khoảng cách như một cách thể hiện quyền lực.

11. Nguyên tắc giọng nói: Chúng ta học tốt hơn khi mà lời thuật trong các bài học đa phương tiện là giọng nói của con người thay vì sử dụng giọng nhân tạo của máy tính. Voice Principle/People learn better when the narration in multimedia lessons is spoken in a friendly human voice rather than a machine voice.

12. Nguyên tắc hình ảnh: Chúng ta học tốt khi mà hình ảnh của người trình bày không nhất thiếtphải xuất hiện trên màn hình. Image Principle/People do not necessarily learn better from a multimedia lesson when the speaker’s image is added to the screen.

Tài liệu tham khảo: 

Clark, R. E., & Feldon, D. F. (2005). Five common but questionable principles of multimedia learning. In R. Mayer (Ed.), The Cambridge Handbook of Multimedia Learning (pp. 97-115). New York: Cambridge University Press.

Mayer, R. E., (2009). Multimedia learning (2nd ed.). New York: Cambridge University Press.

Cuốn sách Multimedia Learning của Richard E. Mayer, bản 2001 và bản 2009
Cuốn sách Multimedia Learning của Richard E. Mayer, bản 2001 và bản 2009
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s