Năng lực tiếng Anh của Việt Nam có cải thiện hơn?

Tổ chức giáo dục quốc tế EF (Education First) gần đây mới phát hành báo cáo (thứ 5) về chỉ số năng lực tiếng Anh EF (ngày 03/11/2015) hay còn gọi là EF EPI (EF English Proficiency Index), qua đó báo cáo này xếp loại trình độ tiếng Anh của 70 quốc gia trên thế giới. Đây là hoạt động thường niên của tổ chức EF, bắt đầu từ năm 2011 nhằm đưa ra một chỉ số chung để so sánh năng lực tiếng Anh của các quốc gia trên các khu vực và vùng lãnh thổ. Dữ liệu cho mỗi báo cáo hàng năm là kết quả của các bài thi tiếng Anh của năm trước đó do tổ chức EF triển khai. Báo cáo mới phát hành gần đây dựa trên dữ liệu trong năm 2014 của 910,000 người tham gia hai bài thi (có thể là một trong hai, báo cáo không nói rõ nội dung này): (1) bài thi thứ nhất được triển khai miễn phí cho bất cứ ai quan tâm qua mạng internet tại địa chỉ https://www.efset.org/en; (2) bài thi thứ hai là bài thi xếp lớp (placement test) do tổ chức này sử dụng trong quá trình tuyển sinh/đào tạo. Theo như báo cáo của tổ chức này, hai bài thi bao gồm 4 hợp phần: ngữ pháp, từ vựng, đọc hiểu, nghe hiểu. Những quốc gia nào có hơn 400 người thi trở lên được đưa vào phân tích và báo cáo. Điểm số của mỗi quốc gia là điểm trung bình từ hai bài thi, có trọng số như nhau và điểm số trung bình này sẽ được quy chiếu sang khung tham chiếu châu Âu (CEFR) từ B2-A2  (cụ thể, Very High Proficiency tương ứng B2; High, Moderate, Low proficiency tương ứng B1; và Very Low Proficiency tương ứng A2).

Giao diện chính của trang EF EPI (ảnh chụp màn hình từ trang web của EF)
Giao diện chính của trang EF EPI (ảnh chụp màn hình từ trang web của EF 2015)

Theo báo cáo này, có một vài điểm nhấn mà người đọc có thể sẽ quan tâm, đặc biệt là những người làm chính sách, các nhà giáo dục ngoại ngữ, thầy cô giáo dạy tiếng Anh và cả những người khác (phụ huynh, học sinh, sinh viên):

  • Trình độ tiếng Anh trung bình của người lớn đã tăng một chút so với năm trước, tuy nhiên sự cải thiện này không đồng đều giữa các quốc gia, khu vực và độ tuổi. Nhiều quốc gia không có thay đổi đáng kể, thậm chí còn giảm đi một chút.
  • Nhìn chung, những người ở độ tuổi 18-20 có trình độ tiếng Anh cao hơn cả. Tuy nhiên, xét trên phạm vi toàn cầu, sự khác biệt về khả năng tiếng Anh của những người dưới độ tuổi 30 là rất nhỏ. Xét theo từng quốc gia, câu chuyện lại hoàn toàn khác, với một số quốc gia thể hiện rõ nét về sự khác biệt (về khả năng tiếng Anh) qua các lứa tuổi trong khi những quốc gia khác hầu như không có chút khác biệt nào.
  • Nhìn chung, nữ giới nói tiếng Anh tốt hơn nam giới xét trên phạm vi tất cả các quốc gia trong danh sách, các khu vực được khảo sát và hầu hết mỗi quốc gia. Sự khác biệt về khả năng tiếng Anh theo giới tính thể hiện rõ nhất ở Đông Âu, Trung Đông, và Bắc Phi, nhưng hầu như không xuất hiện ở những quốc gia có trình độ tiếng Anh cao ở Bắc Âu. (Tôi không đồng ý với nhận định thứ nhất của EF vì hai bài thi của họ không có hợp phần nói, nguyên văn: “Women speak English better than men worldwide.” Chúng ta có thể đồng ý rằng khả năng tiếng Anh của nữ giới tốt hơn nam giới mà thôi).
  • Châu Âu vẫn tiếp tục đứng đầu bảng xếp loại, đặc biệt là Bắc Âu và Trung Âu. Vị trí của các quốc gia này cũng ổn định qua 5 năm qua. Tuy nhiên, Pháp không nằm trong những vị trí này với chỉ số năng lực tiếng Anh thấp (low English proficiency)
  • Ở châu Á, trình độ tiếng Anh rất đa dạng với 3 quốc gia ở mức cao (High Proficiency) trong khi một vài quốc gia khác ở mức rất thấp (very low proficiency). Điều này một phần cũng là do châu Á có nhiều quốc gia tham gia hơn cả.
  • Mặc dù có sự thay đổi về thứ hạng hàng năm, nhưng tương quan/mối liên hệ giữa khả năng tiếng Anh với thu nhập, kết nối internet, nghiên cứu khoa học và các chỉ số khác đều rất ổn định qua các năm.

Báo cáo này cũng đưa ra một số chiến lược mà các quốc gia có trình độ tiếng Anh cao đã sử dụng bao gồm:

  • Tách tiếng Anh ra khỏi các ngoại ngữ khác.
  • Tập trung vào kỹ năng giao tiếp thực tế ngay từ đầu.
  • Bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh dạy tiếng Anh giao tiếp.
  • Phát triển các phương pháp đánh giá hiệu quả.
  • Hỗ trợ khối tư nhân trong hoạt động đào tạo. (có phần hơi biased ở điểm này)
  • Đầu tư vào công nghệ và các công cụ học tập trực tuyến.
  • Coi trọng tiếng Anh trong khuôn khổ của các cải cách giáo dục khác.

Câu hỏi đặt ra là, dựa trên báo cáo của EF trong 5 năm qua, khả năng tiếng Anh của Việt Nam có cải thiện hơn? Báo cáo năm nay xếp Việt Nam ở vị trí 29 trong tổng số 70 quốc gia về trình độ tiếng Anh, và vị trí 5 trong 16 quốc gia ở châu Á. So với bảng xếp loại từ những năm trước, thì vị trí của Việt Nam so với các quốc gia khác cũng được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, cũng lưu ý rằng số lượng quốc gia tham gia theo mỗi năm là không giống nhau, do vậy nếu chỉ dựa vào kết quả xếp loại để đánh giá mức độ cải thiện khả năng tiếng Anh của Việt Nam thì chưa hợp lý.

Bảng xếp loại trình độ tiếng Anh của Việt Nam theo các năm
Bảng xếp loại trình độ tiếng Anh của Việt Nam theo các năm 2001-2015 (chính xác là 2010-2014)/Ảnh chụp màn hình của EF EPI 2015

Lần theo báo cáo từ các năm trước, chúng ta có thể sử dụng điểm trung bình theo từng năm để một phần nhận định được về khả năng tiếng Anh của Việt Nam.  Theo đó, theo báo cáo phát hành năm 2011, điểm số trung bình của Việt Nam là 44.32, tương ứng với mức độ rất thấp (very low, A2) theo cách phân loại của chỉ số EF EPI. Theo báo cáo năm 2012, điểm số cải thiện đáng kể, tăng 7.82 so với năm 2011. Điểm số này nhỉnh hơn một chút theo báo cáo năm 2013 và đưa Việt Nam vào cấp độ vừa phải (moderate, B1) trong khung năng lực ngôn ngữ. Tuy nhiên, báo cáo năm 2014 cho thấy điểm trung bình của Việt Nam lại giảm đi một chút (giảm 0.57 so với 2012 và 0.7 so với 2013). Và trong báo cáo mới nhất (2015) thì điểm số này đã tăng lên tương đối (53.81). Dựa vào điểm trung bình qua các năm cho thấy, khả năng tiếng Anh của Việt Nam cũng có cải thiện một chút và có chiều hướng đi lên.

Điểm số trung bình của Việt Nam qua hai bài thi do EF triển khai từ 2010-2014
Điểm số trung bình của Việt Nam qua hai bài thi do EF triển khai từ 2010-2014/Số liệu từ báo cáo của EF theo các năm

Đặc biệt, khi tìm hiểu kỹ hơn về mức độ khác biệt giữa các vùng miền ở Việt Nam thì báo cáo năm 2015 cho thấy đã có sử cải thiện rõ rệt của các khu vực phía Bắc. Nếu như các năm trước đây, chỉ có TP. Hồ Chí Minh đạt mức vừa phải (moderate) trong cấp độ phân loại của EF EPI thì năm 2015 khu vực Đông Nam Bộ và châu thổ Sông Hồng đã thấy sự cải thiện đáng kể, thậm chí khu vực Đông Nam Bộ còn có điểm số cao hơn khu vựng đồng bằng Sông Hồng (55.39 và 53.23).

Trình độ tiếng Anh của Việt Nam theo khu vực
Trình độ tiếng Anh của Việt Nam theo khu vực/Ảnh chụp màn hình của EF EPI năm 2015

Như vậy, dựa theo dữ liệu và báo cáo của tổ chức giáo dục quốc tế EF, chúng ta có thể thấy khả năng tiếng Anh của Việt Nam thể hiện qua hai bài thi của EF từ những người tham gia qua các năm đã có sự cải thiện một chút. Mặc dù kết quả này còn rất khiêm tốn, nhưng đó cũng là một dấu hiệu lạc quan. Thật khó có thể kết luận đâu là tác động chính cho sự cải thiện này, nhưng chúng ta cũng cần xem xét tới những nỗ lực của Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020 trong những năm vừa qua. Mặc dù EF không đưa yếu tố chính sách quốc gia trực tiếp vào báo cáo của họ trong kết luận, nhưng ở bối cảnh Việt Nam, điều này cũng nên được nhắc tới.

Tuy nhiên, có rất nhiều điều cần thảo luận thêm về bản báo cáo này, đặc biệt là mức độ đại diện của các quốc gia có trong danh sách và mức độ tin cậy/hợp lý của các bài thi mà EF sử dụng. Như EF đã thừa nhận trong bản báo cáo: “Chúng tôi công nhận rằng những người tham gia làm bài thi đưa vào trong chỉ số này là tự chọn và không đảm bảo được mức độ khái quát (đại diện) cho cả một quốc gia. Chỉ có những người muốn học tiếng Anh hoặc muốn biết về khả năng tiếng Anh sẽ tham gia một trong những bài thi này. Điều này làm cho điểm số có sự thiên lệch, hoặc cao hơn, hoặc thấp hơn so với dân số chung.” (Nguyên văn: “We recognize that the test-taking population represented in this index is self-selected and not guaranteed to be representative of the country as a whole. Only those people either wanting to learn English or curious about their English skills will participate in one of these tests. This could skew scores lower or higher than those of the general population.”  Như vậy, mặc dù bài báo cáo nói tới trình độ/năng lực tiếng Anh của một quốc gia, nhưng thật khó có thể kết luận được rằng nó thể hiện mặt bằng chung của mỗi quốc gia được nhắc tới. Trong bài viết này, tôi vẫn sử dụng danh từ chung “Việt Nam” để mô tả, tuy nhiên, việc diễn giải cần được xem xét ở mức độ hẹp qua những người tham gia (và tôi không có số liệu). Tương tự như vậy, bản báo cáo cũng chỉ ra hạn chế của bài thi trực tuyến, qua đó chỉ những người kết nối mạng mới có thể tham gia làm bài thi, như vậy những người không (quen) dùng hoặc không có điều kiện truy cập mạng internet sẽ bị loại ra. Ý này củng cố cho ý trước nhằm nhấn mạnh rằng kết quả từ các bài thi và dữ liệu được sử dụng trong báo cáo không thể khái quát cho cả một quốc gia.

Báo cáo này nói về chỉ số năng lực tiếng Anh (English Proficiency), tuy nhiên định nghĩa thế nào là năng lực tiếng Anh (proficiency) thì chưa được làm rõ. Báo cáo chỉ nhắc tới 4 hợp phần trong hai bài thi: ngữ pháp, từ vựng, đọc hiểu và nghe hiểu. Đối với bài thi xếp lớp, tôi không tiếp cận được, nhưng bài thi trực tuyến thì chỉ gồm hai phần: nghe và đọc yêu cầu người thi hoàn thành trong khoảng 15 phút (EFSET Express). Lưu ý rằng đây là bài thi ngắn nhất, họ cũng có những bài thi dài hơn bao gồm bài thi 50 phút (EFSET) và bài thi 120 phút (EFSET Plus). Tuy nhiên, trong báo cáo họ không nói rõ là kết quả được sử dụng từ những bài thi nào. Quay trở lại định nghĩa năng lực tiếng Anh (proficiency), trong báo báo nhiều thuật ngữ tương tự được sử dụng như ability, skills, (cũng như trình độ, khả năng…trong bài viết của tôi), tôi cho rằng, chúng ta chỉ có thể giới hạn những thuật ngữ này qua phạm vi bài thi họ sử dụng (ngữ, pháp, đọc, nghe…không có nói và viết). Mức độ tin cậy và hợp lý (reliability & validity) của các bài thi EF cũng được đề cập tới trong báo cáo nghiên cứu của tổ chức này (phát hành 09/2014) và mức độ tương quan với các bài thi TOEFL hoặc IELTS cũng cần được xem xét.

Cuối cùng, mặc dù bản báo cáo (và tóm tắt báo cáo) đưa ra nhiều thông điệp (như: Better English, Higher Income/Tiếng Anh tốt, thu nhập cao) và các chỉ số tương quan (phần insights trong trang web) giữa chỉ số năng lực tiếng Anh với kinh tế & chất lượng cuộc sốngtiếng Anh và đổi mớitiếng Anh và mức độ kết nối mạng, mức độ tương quan đều ở mức vừa phải (0,5-6,9) và quan trọng là đây chỉ là mối liên hệ chứ không phải tiếng Anh là nguyên nhân. Do vậy chúng ta không biết được rằng do thu nhập tốt hơn vì thế khả năng tiếng Anh được cải thiện hay do tiếng Anh được cải thiện dẫn tới thu nhập cao hơn (hoặc tương tác hai chiều, biện chứng :))

Mức độ tương quan giữa trình độ tiếng Anh và các chỉ số khác
Mức độ tương quan giữa trình độ tiếng Anh và các chỉ số khác

 

Tương quan giữa chỉ số năng lực tiếng Anh và thu nhập (ảnh chụp màn hình)
Tương quan giữa chỉ số năng lực tiếng Anh và thu nhập (ảnh chụp màn hình)

—————————-

Báo cáo theo các năm có thể được tải về tại địa chỉ: http://www.ef.edu/epi/downloads; Tìm hiểu kỹ hơn về phương pháp xây dựng chỉ số qua mục giới thiệu: http://www.ef.edu/epi/about-epi

Chỉ số năng lực tiếng Anh của EF sẽ đáng tin cậy hơn nếu như họ công khai dữ liệu giống như các chỉ số khác như PISA của OECD hay The Learning Curve của Pearson.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s