Phân loại tạp chí trong lĩnh vực ngoại ngữ

Bài viết này bắt nguồn từ thắc mắc mình đã có từ rất lâu về các ấn phẩm trong lĩnh vực giáo dục nói chung và ngoại ngữ nói riêng. Đôi khi, nếu chúng ta quan sát hoặc để ý một chút, một tính từ trong tiếng Việt rất được ưa chuộng và đôi khi bị lạm dụng để nói về tầm cỡ một hoạt động nào đó là từ “quốc tế” (international), ví dụ như tạp chí quốc tế, hội thảo quốc tế, trường quốc tế, chương trình quốc tế, rồi tất cả các “tế” được đưa vào diễn ngôn như một công cụ để làm nổi bật tầm quan trọng của một thực thể, sự kiện nào đó. Cũng giống như các từ thời thượng khác như sáng tạo, đổi mới, tư duy phản biện, kỹ năng mềm…khả năng “đánh bóng” của những từ này thường rất hiệu quả, nên hay được dùng nhiều trong các chương trình thương mại và hoạt động kinh doanh. Đôi khi người ta dùng chúng nhưng một công cụ tiếp thị (selling/marketing points) mà chẳng định nghĩa rõ xem nó là gì. Chúng ta có thể kiểm chứng bằng cách mỗi lần nghe ai đó nói những từ hoa mỹ này, chen ngang và hỏi họ xem họ đang ám chỉ tới nội dung cụ thể nào. Chắc chắn chúng ta sẽ có được những quan sát và bài học vô cùng thú vị.

Mặc dầu vậy, ở một góc độ khác, việc mập mờ của những mỹ từ này lại là công cụ béo bở để người ta có thể nhập nhằng giữa những thứ chẳng ai định nghĩa chính xác được. Một quan sát dễ thấy là các trường đại học yêu cầu giáo viên phải có công bố quốc tế. Yêu cầu cụ thể của công bố quốc tế này là gì? Một bài viết dùng ngoại ngữ và đăng tải ở đâu đó ngoài Việt Nam? Sau một thời gian dài tìm hiểu mình xin phép tóm lược lại hiểu biết (nông cạn) để giúp những người dạy-học, nghiên cứu ngoại ngữ có cách nhìn phản biện hơn. Qua đây, chúng ta cũng có cách nhìn bao quát hơn để từ đó đặt mục tiêu, lập kết hoạch và triển khai các hoạt động tiếp cận, sử dụng và đăng bài trên các tạp chí. Có nhiều tiêu chí và tiêu chuẩn để đánh giá một bài viết, một tạp chí, một cuốn sách hoặc một trang web nào đó, nhưng để thuận tiện, chúng ta cùng giới hạn lại thành hai khía cạnh (dimensions) để tiện theo dõi.

Khía cạnh thứ nhất là mục đích của các tạp chí thể hiện qua đối tượng người đọc mà họ nhắm tới. Trong lĩnh vực giảng dạy, nghiên cứu ngoại ngữ thì chúng ta có thể phân loại thành hai nhóm chính: tạp chí nghề nghiệp và tạp chí nghiên cứu. Tạp chí nghề nghiệp trong lĩnh vực dạy-học ngoại ngữ thường là các bài viết nhằm giúp những người trong cùng cộng đồng hành nghiệp nâng cao hiểu biết và kỹ năng chuyên môn của họ. Các bài viết đôi khi là những kinh nghiệm tích lũy được, đôi khi là những cách làm cụ thể để giúp người khác có thể thực hiện theo, hoặc cũng có khi là một giáo án cụ thể. Tạp chí với mục đích phục vụ chuyên môn cho những người hành nghiệp thường ngắn gọn, cụ thể, được xuất bản qua tổ chức, hội nghề nghiệp trên khu vực nhất định, thông qua newsletter, magazines….Tạp chí nghiên cứu có đối tượng đọc giả chủ yếu là các nhà nghiên cứu trong cùng lĩnh vực yêu cầu kiến thức chuyên biệt, thường những bài viết này có nhiều trích dẫn và sử dụng nhiều thuật ngữ, cách tiếp cận tương đối hàn lâm, những người ‘bên ngoài’ đôi khi rất khó tiếp cận. Trong lĩnh vực ngôn ngữ hai, có rất nhiều tạp chí thuộc hẳn một trong hai trường phái, còn lại đa số nằm rải rác từ mục đích nghề nghiệp tới mục đích nghiên cứu. Chẳng hạn như một số tạp chí nghiên cứu nhưng lại có một chuyên mục dành cho những người thực hành như kinh nghiệm dạy học, nghiên cứu hành động, chiêm nghiệm…Ngược lại một số tạp chí nghề nghiệp cũng đăng các bài viết được nghiên cứu một cách có hệ thống. Việc phân loại thành hai nhóm này chỉ có tính tương đối vì phạm vi, mục đích của các bài viết, các tạp chí có thể hướng vào nhóm này hoặc hướng vào nhóm còn lại, hoặc đôi khi nhằm vào cả hai (thể hiện qua sự liên tục như hình dưới đây).

Khía cạnh thứ hai là mức độ mở của các tạp chí. Cũng tương tự như khía cạnh mục đích đã thảo luận bên trên, chúng ta không nên cho rằng các tạp chí hoặc là mở hoặc là đóng mà các tạp chí thường có các mức độ mở khác nhau. Mở ở đây có hai cách tiếp cận. Mở thứ nhất có nghĩa là mọi người đều có thể truy cập. Đóng có nghĩa là chúng ta phải trả phí để có thể truy cập và sử dụng. Thường những tạp chí đóng thì có lịch sử khá lâu đời và cũng có uy tín cao. Các bài viết trong những tạp chí này được bình duyệt, biên tập và trình bày rất chuyên nghiệp. Điều này không có nghĩa là những tạp chí mở chất lượng thấp hơn hoặc thiếu chuyên nghiệp hơn. Mở thứ hai có nghĩa là mức độ, phạm vi sử dụng của những bài viết trên mỗi tạp chí. Ví dụ như một số tạp chí thì yêu cầu người dùng xin phép nhà xuất bản trước khi sử dụng vào mục đích khác (thương mại, in lại, hoặc sử dụng trong các cuốn sách), trong khi một số tạp chí thì sử dụng tiêu chuẩn mở (creative commons), và cũng tùy theo mức độ cho phép khác nhau mà người dùng có quyền sử dụng khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta đều có thể sử dụng cho mục đích học tập, nghiên cứu cá nhân hoặc cho các hoạt động giáo dục, phi lợi nhuận.

Một khía cạnh khác chúng ta cần lưu tâm là các bài viết trong mỗi tạp chí có được bình duyệt (peer review) hay chỉ do người biên tập thẩm định, chỉnh sửa rồi đăng. Thông thường, các bài báo trong tạp chí nghiên cứu được gửi đi bình duyệt và quy trình khá tốn thời gian. Một số tạp chí chuyên môn cũng có yêu cầu bình duyệt, nhưng trong mỗi tạp chí có thể một số mục được yêu cầu bình duyệt, một số mục thì không bắt buộc. Thông qua quy trình bình duyệt thì nội dung các bài viết có thể chặt chẽ hơn, tin cậy hơn nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta chỉ chấp nhận những gì được phát biểu trong đó mà quên đặt ra những nghi vấn và đưa ra những ý kiến phản biện. Trình độ, uy tín của ban biên tập và những người tham gia bình duyệt không hoàn toàn như nhau vậy nên chất lượng bài viết trong các tạp chí cũng khá đa dạng.

Như chúng ta có thể quan sát qua hình dưới đây thể hiện sự tương tác hai chiều về mức độ mở và mục đích tạp chí. Nhóm thứ nhất là OPEN-PROFESSIONAL bao gồm các tạp chí đăng tải miễn phí trên các trang web, miễn phí truy cập. Nổi bật trong nhóm này là tạp chí English Teaching Forum, do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tài trợ, ra bốn số mỗi năm. Tạp chí được phát hành dạng bản in thông qua các Đại sứ quán của Hoa Kỳ từ năm 1962, bản điện tử được phát hành từ năm 2001. Tuy nhiên, ai quan tâm thêm các số ra trước đó từ 1994-1999 cũng có thể truy cập tại địa chỉ sau. Một số tạp chí khác tương tự cũng xuất hiện sau đó thông qua các tổ chức giáo dục hoặc các trường đại học.

Nhóm thứ hai là OPEN-RESEARCH bao gồm nhiều tạp chí dành cho các nhà nghiên cứu nhưng có thể truy cập mở, ai cũng có thể tiếp cận. Các bài viết trong những tạp chí này thường yêu cầu người đọc có kiến thức nền và hiểu biết về các phương pháp nghiên cứu được sử dụng. Từ đó giúp người đọc đánh giá tốt hơn chất lượng các bài viết và những nhận định đưa ra từ những bài viết này. Đa số những tạp chí này được tài trợ qua các dự án nghiên cứu hoặc các tổ chức…Nhiều tạp chí rất có uy tín và tăng dần vị trí trong bảng xếp hạng như Language Learning & Technology, PROFILE…

Phân loại tạp chí trong lĩnh vực ngôn ngữ 2
Phân loại tạp chí trong lĩnh vực ngôn ngữ 2
Nhóm tiếp theo là CLOSE-PROFESSIONAL bao gồm các tạp chí định hướng nghề nghiệp nhưng do các nhà xuất bản giữ bản quyền và thu phí truy cập. Người dùng thường phải trả phí thông qua đăng ký trực tiếp hoặc các trường trả phí truy cập. Nổi bật trong nhóm này là tạp chí ELT Journal của Anh, có lịch sử khá lâu đời, bắt đầu từ năm 1946. Tương ứng với ELT Journal là TESOL Journal xuất bản ở Hoa Kỳ.
Nhóm cuối cùng xét trong hai khía cạnh đã nêu là CLOSE-RESEARCH bao gồm những tạp chí giữ vai trò như diễn đàn cho các nhà nghiên cứu trao đổi, chia sẻ. Nổi bật trong nhóm này là tạp chí Language Learning (ra đời 1946), đây cũng là tạp chí có vị trí xếp hạng cao nhất thuộc lĩnh vực nghiên cứu ngoại ngữ trong nhiều năm. Tuy nhiên, nhiều tạp chí khác cũng bắt đầu vươn lên. Ai quan tâm tới bảng xếp hạng và các chỉ số có thể tham khảo thêm công cụ xếp hạng của SCImago dành cho nhóm ngôn ngữ và ngôn ngữ học (Language and Linguistics). Đây cũng là cách chúng ta có thể tìm hiểu thêm về một số tạp chí để từ đó có những quyết định phù hợp cho mục đích sử dụng và gửi bài.
Vậy cách phân loại này có ý nghĩa gì? Như một thói quen, chúng ta nên đặt câu hỏi “so what?” để đào sâu hơn vấn đề đang quan tâm. Nếu như trước đây, mình hay thắc mắc rằng tại sao các nhà nghiên đôi khi đưa ra những nhận định mà rất hiển nhiên với một người dạy ngoại ngữ nhưng lại thông qua những ngôn ngữ và cách diễn đạt rất phức tạp thì giờ đây mình hiểu một phần rằng bài viết của các học giả đôi khi không dành cho giáo viên hoặc người làm trực tiếp. Họ quan tâm tới hiểu biết, kiến thức nhiều hơn là việc họ làm được gì với những hiểu biết đó. Người giáo viên thì tiếp cận thực dụng hơn vì họ cần phải giải quyết vấn đề thực tiễn. Như vậy, từ cách phân loại thành hai nhóm, chúng ta có thể lựa chọn tạp chí phù hợp với nhu cầu, mục đích của mình để tiếp cận, sử dụng. Những tạp chí CLOSE thường khó truy cập được vì thư viện các trường đại học phải trả rất nhiều tiền cho các nhà xuất bản. Ở Việt Nam, việc các trường đại học dành khoản tiền lớn để mua các cơ sở dữ liệu thường khá khiêm tốn. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều tạp chí xuất bản mở và các bài viết cũng có chất lượng rất tốt. Mặt trái của xu hướng mở là các tạp chí ma, nhà xuất bản ma ra đời rất nhiều để những người muốn đăng bài có thể trả một khoản phí để được xuất bản. Cũng có một loại hình trả phí khác là thông qua các nhà xuất bản và các tạp chí CLOSE, tác giả trả phí để bài báo của họ được miễn phí truy cập. Mình đã liệt kê các tạp chí MỞ trong lĩnh vực nghiên cứu ngoại ngữ ở mục tài nguyên, ai quan tâm có thể tham khảo.
Việc liệt kê những tạp chí MỞ này dựa vào một vài tiêu chí và kinh nghiệm cá nhân, nên chúng ta tiếp cận cũng cần có tinh thần phản biện. Dân gian đã có câu “Chiếc áo không làm nên thầy tu”, vì vậy mỗi người cần dựa vào kiến thức chuyên môn của mình mà đánh giá. Không phải vì một bài báo đăng trên tạp chí có xếp hạng thấp mà chất lượng hoặc mức ảnh hưởng giảm đi và ngược lại, không phải cứ bài nào đăng trên tạp chí có xếp hạng cao cũng có tác động tốt, cho dù các xếp hạng dựa vào những chỉ số khác nhau. Chẳng hạn như, một công trình được cộng đồng nghiên cứu đánh giá cao, trích dẫn nhiều nhưng đôi khi lại ít có giá trị trong thực tiễn giảng dạy của giáo viên…Vậy nên, chúng ta cần “lựa cơm, gắp mắm” và không ngừng hoài nghi và phản biện.
Việc gửi bài và đăng bài cũng tương tự như vậy, nếu bài viết của chúng ta hữu ích cho những người dạy-học thì gửi cho các tạp chí nghề nghiệp sẽ phù hợp hơn. Nếu chúng ta muốn nhiều người có thể đọc và sử dụng thì nhắm tới các tạp chí mở. Tương tự, những bài viết từ những công trình nghiên cứu công phu, bài bản và đóng góp thêm vào kiến thức chung của ngành thì nên được đăng trên các tạp chí nghiên cứu, tuy nhiên cũng sẽ mất thời gian nhiều hơn và yêu cầu cao hơn. (Kinh nghiệm gửi bài báo nên tham khảo Willy A Renandya qua bài viết trên ELTWO)
Cũng từ cách tiếp cận này mà chúng ta nên có cách đánh giá phù hợp hơn. Nếu A là một nhà nghiên cứu (thường có bằng tiến sĩ) thì năng lực của A phải thể hiện qua các bài báo đăng trên tạp chí phù hợp (chứ không phải cứ ‘quốc tế’ chung chung). Ngược lại, nếu B là một giáo viên ngoại ngữ thì B có năng lực dạy học, có chuyên môn hay không thì cần có nhiều tiêu chí, cách tiếp cận khác chứ không phải thông qua mỗi hoạt động xuất bản của B.
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s