Giáo viên & nhà nghiên cứu: văn phong

Blog “Evidence-based EFL” (tạm hiểu: dạy tiếng Anh thực chứng/dựa vào các nghiên cứu) gần đây chia sẻ một bài viết  có tên ‘Misapplied Linguistics’ (ngôn ngữ học ứng dụng-nhầm) phản ứng về tính ứng dụng của những nghiên cứu hàn lâm. Cụ thể, bài viết cho rằng nhà nghiên cứu sử dụng các thuật ngữ gây nhầm lẫn, diễn giải không đúng phát hiện của họ, và những người trung gian (giảng viên, đào tạo giáo viên) cũng hay hiểu sai. Những lập luận này không phải là không có lý vì từ lâu nay vẫn tồn tại nhận thức về sự phân chia giữa lý luận & thực tiễn. Tôi chia sẻ lại một vài suy nghĩ trước đây (02/2015), tập trung vào khía cạnh văn phong.

———-

Viết bao giờ cũng có mục đích, cũng có đối tượng đọc giả nhất định. Chính vì vậy văn phong khác nhau cũng dành cho những đối tượng khác nhau. Điều này thể hiện rõ ràng nhất trong văn phong khoa học. Từ trước tới nay, rất nhiều người phàn nàn và chỉ trích cho rằng văn phong khoa học khô cứng, hàn lâm, những người làm chuyên môn (professionals/practitioners) khó, thậm chí không thể tiếp cận được. Nhưng trên thực tế, thể loại văn phong này chủ yếu hướng tới đối tượng người đọc có cùng kinh nghiệm trong lĩnh vực ấy: những học giả & người làm công tác nghiên cứu.

Khi còn là giáo viên, đã không ít lần tôi thắc mắc và chỉ trích những công trình nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực giáo dục ngoại ngữ đôi khi chỉ ra những điều hết sức hiển nhiên mà bằng kinh nghiệm của một giáo viên mới vào nghề tôi cũng có thể nhận ra điều đó. Tuy nhiên, giờ đây tôi hiểu được những điều mình “biết” (knowing) và những “điều được kiểm chứng” (attested knowledge) là hoàn toàn khác nhau. Cho dù những điều được kiểm chứng không phải là chân lý tuyệt đối (absolute truth) nhưng rõ ràng ưu điểm của chúng là thường xác tín hơn (valid), bao quát hơn (representative), sâu sắc (logical) hơn những kinh nghiệm thông thường do quá trình tìm hiểu (inquiry) có tính hệ thống hơn (systematic) và luôn được phản biện nghiêm ngặt hơn (critically rigorous). Những kiến thức này được triết gia John Dewey gọi là “nhận định có tính đảm bảo” (warranted assertibility, 1981, p. 15).

Chính vì đặc thù của loại kiến thức này mà việc trình bày nó cũng có những quy định, thể thức nghiêm ngặt để những người đồng môn có thể xem xét, phản biện để từ đó có thể công nhận hoặc bác bỏ trước khi những kiến thức ấy có thể tới được đối tượng người đọc thông thường. Như vậy có thể thấy rằng, văn phong khoa học chủ yếu phục vụ cho những người làm khoa học, những người hàn lâm đã có kiến thức, kinh nghiệm tối thiểu trong lĩnh vực đó để có thể tiếp cận và sử dụng. Thể loại văn phong này được trình bày chủ yếu qua các bài báo đăng trên tạp chí hay các chuyên san, tuyển tập bài viết có tính chuyên môn hóa, mang kỹ thuật (technical) cao. Những người không tham gia vào cộng đồng này một cách thường xuyên, liên tục thì khó có thể tiếp cận được. Cho dù những người được đào tạo, có chuyên môn về lĩnh vực này, khi không cập nhật thường xuyên, họ khó có thể bắt kịp với những thay đổi về nghị trình nghiên cứu (research agenda), những tranh luận, giải thuyết mới đưa ra (new hypotheses/debates) hay những phương pháp nghiên cứu được bổ sung khác nữa (new research methods).

Đối với những nhà chuyên môn, họ cũng xây dựng và chia sẻ một thể loại văn phong khác phù hợp với nhu cầu, trình độ và kinh nghiệm của mình. Thể loại này cũng được chia sẻ qua các bài báo đăng trên các tạp chí, các cuốn sách có tính đặc thù và có đối tượng là những người cùng trong lĩnh vực nghề nghiệp giống nhau như giáo viên, luật sư, làm vườn…Tuy nhiên, những bài viết này không phải là bài báo khoa học, mặc dù đôi khi những người làm chuyên môn cũng có kinh nghiệm ở lĩnh vực khoa học và kết hợp một số kiến thức, kinh nghiệm, kỹ thuật ở lĩnh vực hàn lâm vào công tác chuyên môn. Trên thực tế cũng có rất nhiều người thành công cả ở hai lĩnh vực, tuy nhiên, để đánh giá và công nhận những bài báo khoa học thì phải dựa vào tạp chí theo định hướng nghiên cứu đã đăng bài báo đó thay vì chỉ có một bài báo trên tạp chí bất kỳ nào đó. Với sự phát triển công nghệ hiện nay, việc xuất bản và tự xuất bản không phải là một xu hướng quá mới mẻ đối với nhiều người. Mỗi người đều có thể tự đưa lên mạng những bài viết của mình cho dù có được kiểm chứng hay không. Và quan trọng là đối tượng người đọc, người sử dụng đánh giá, áp dụng những nội dung ấy ra sao.

Có thể thấy rằng có ba thể loại diễn ngôn trong lĩnh vực giáo dục ngoại ngữ: diễn ngôn khoa học (research-based discourse), diễn ngôn sư phạm (pedagody discourse) và diễn ngôn kết hợp (hybrid discourse) (theo Ellis & Shintani, 2014, p. 1-3). Việc tham gia, hiểu biết những ngôn ngữ đặc thù này cần một quá trình học tập và thực hành tích cực để có hiểu và vận dụng được. Đối với những người làm chuyên môn, họ không đợi cho tới khi tất các những kiến thức được kiểm chứng đã toàn diện mới đem ra áp dụng, mà thay vào đó họ phải vận dụng tất cả những cách tìm hiểu khác nhau (ways of knowing) để đưa ra quyết định cho công việc của mình (Dương Thiệu Tống, 2005). Đặc biệt là giáo viên, họ không thể đợi những nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục thật hoàn thiện và đem ra áp dụng, mà họ vẫn phải liên tục đối đầu với những thách thức khi chưa có đủ thông tin, và từ đó hình thành nên những kinh nghiệm trong thực tế qua quá trình thử sai (trial & error).

Do vậy, chúng ta không thể dùng kiến thức, kinh nghiệm, tiêu chuẩn ở nghề nghiệp này để đánh giá, áp đặt cho những sản phẩm, hoạt động của nghề nghiệp khác. Những người giáo viên đứng lớp không thể đòi hỏi những nhà nghiên cứu đưa ra đáp án cụ thể cho những thắc mắc  hay những giải pháp tóm gọn, dùng được ngay trên lớp học. Ngược lại, những học giả, nhà hàn lâm không thể áp đặt giáo viên phải dạy theo cách này, theo cách kia mà không tự nhận thức được những giới hạn, những thiếu sót của mình. Nhà nghiên cứu có thể chia sẻ những nhận định mới, những kiến thức mới, đa chiều để giáo viên có cơ hội mở rộng hơn chân trời nhận thức và từ đó ảnh hưởng tới hành động thực tế. Giáo viên cũng không ngừng chia sẻ những kinh nghiệm thực tế, những khó khăn vướng mắc của mình để ảnh hưởng tới nghị trình nghiên cứu của các nhà hàn lâm. Có như vậy thì cả hai công việc mới hy vọng tìm được tiếng nói chung và hỗ trợ tích cực cho nhau.

————

Để phần nào hình dung được sự nghiêm ngặt và đôi khi khắc nghiệt của thế giới hàn lâm, chúng ta có thể theo dõi những tranh luận về lợi ích của những người song ngữ (bilinguals) qua một bài viết gần đây: The Bitter Fight Over the Benefits of Bilingualism;

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s