Ngành học Second Language Studies (SLS)

Có một thực tế là mỗi khi gặp ai đó trao đổi hỏi han, biết mình là sinh viên mọi người luôn buông câu hỏi xem học ngành gì. Ban đầu thì hồn nhiên nói là ngành Second Language Studies (SLS), thế là kiểu gì sau đó cũng nhận được một cái nhìn rất tò mò và đầy bối rối. Có người sẽ hỏi luôn: “Thế là cậu học nhiều ngôn ngữ khác nhau à?” -“Không hẳn! đơn giản là tìm hiểu xem người ta học một ngôn ngữ mới diễn ra như thế nào.” -“Thế làm thế nào để học tốt một ngoại ngữ?” – “Mình không biết….!” Vài lần như vậy, có người thì hỏi ngay vì họ tò mò, có người thì tỏ ra bối rối, rồi mình nói ngay là đại loại như ngôn ngữ học ứng dụng (applied linguistics) hoặc đôi khi là giảng dạy tiếng Anh (TESOL) hoặc đơn giản là giáo dục (education). Thế rồi ai cũng gật gù, nếu quan tâm hơn gì cùng trao đổi, nếu không thì chuyển chủ đề nói về những mối quan tâm khác. Vậy ngành học SLS tập trung vào nội dung gì? Đối tượng nghiên cứu là gì? Sao không gọi luôn là ngôn ngữ học ứng dụng cho thuận tiện? ‘Second’ có nghĩa là chỉ tập trung vào ngôn ngữ thứ hai thôi hay sao, còn ngôn ngữ thứ 3, thứ 4 và đa ngôn ngữ thì sao? Vài người ngoại đạo so sánh luôn rằng ‘second language’ khác ‘foreign language’ vì học tiếng Anh ở Mỹ thì gọi là ‘second language’ còn học ở Việt Nam thì gọi là ‘foreign language’…bla bla…

Về cơ bản thì mỗi nhận định đều đúng nhưng chưa đủ. Đa số mọi người vẫn quen với ngành ngôn ngữ học ứng dụng nhiều hơn là Second Language Studies nhưng cũng có cách hiểu chưa đúng về ‘applied linguistics’ nếu tiếp cận theo kiểu ‘ứng dụng những nghiên cứu từ ngôn ngữ học’. Vì thế mà các học giả/nhà nghiên cứu ngôn ngữ 2 (second language/L2) mới đổi tên ngành thành Second Language Studies, chủ yếu ở Mỹ bao gồm các đại học như Michigan, Hawai’i, Indiana, Maryland…và cũng là những trường mà ngành học này có xếp hạng khá cao (so với các ngành ngôn ngữ học ứng dụng, TESOL…)

Đại học Hawai’i (UH) là một đại học giống như các đại học vùng ở VN (Đại học Quốc Gia HN, TP HCM) và có các cơ sở, trường thành viên trực thuộc. UH at Manoa (UHM) là cơ sở lớn nhất và là đại học nghiên cứu, khác với các cơ sở khác và các trường cao đẳng cộng đồng thiên về đào tạo nghề và sinh viên đại học. Họ cũng đào tạo sinh viên đại học nhưng chủ yếu tập trung vào sau đại học và đào tạo theo hướng nghiên cứu hàn lâm hơn là chuyên sâu về thực hành. Trong Đại học Hawai’i cơ sở Manoa lại có các trường thành viên như trường Khoa học KHXH&NV, trường Y Dược, trường Kiến Trúc, Trường Luật, trường Kinh Tế, trường Sư Phạm…Và khoa Second Language Studies thuộc trường Ngôn ngữ, Ngôn ngữ học & Văn học (College of Languages, Linguistics, and Literature). Trong khoa SLS thì có 4-5 ngành hẹp khác nhau. Về cơ bản thì họ tập trung vào 5 câu hỏi lớn: [1] What’s language? [2] How languages are learned? [3] How languages are taught? [4] How languages are assessed? [5] How language are used? Từ 5 câu hỏi này họ chia làm các chuyên ngành hẹp (specializations):

* Critical Second Language Studies (CSLS)
* Language Assessment, Measurement, and Program Evaluation (LAMPE)
* Language and Social Interaction (LSI)
* Language Education (LE)
* Second Language Acquisition (SLA)

Học viên thạc sĩ sẽ phải học 4 môn chính, bao quát đủ các khía cạnh của SLS bao gồm:
[1] SLS 441 Language Concepts for Second Language Learning and Teaching (ANALYZE) (tổng quan về phonetics & phonology; syntax, pragmatics) chủ yếu giúp người học hiểu về How languages work.
[2] SLS 650 Second Language Acquisition (LEARN) tổng quan về những nghiên cứu liên quan tới đắc thụ ngôn ngữ.
[3] SLS 6o0 Introduction to applied linguistics/SLS: tổng quan về những lĩnh vực khác nhau của ngôn ngữ học ứng dụng, làm quen với các phương pháp nghiên cứu cho mỗi lĩnh vực khác nhau, hướng dẫn khai thác, đánh giá văn phong khoa học, đọc và phân tích các báo cáo nghiên cứu.
[4] SLS 660 Sociolinguistics: tập trung vào các vấn đề liên quan tới việc sử dụng ngôn ngữ như World Englishes, liên văn hóa, language policy & planning…

Sau đó thì là các môn tự chọn cụ thể hơn, tuỳ theo mối quan tâm của người học mà họ tự chọn những môn phù hợp, trên cơ sở tham vấn với cố vấn học tập. VD như Task-Based Language Teaching cho nhóm Language Education (LE), phương pháp nghiên cứu định tính, phương pháp nghiên cứu định lượng …Những môn này tùy theo mức độ phát triển hiện tại và là mảng nghiên cứu của các giáo sư…Sinh viên cũng có thể học các môn khác bên ngoài khoa như bên khoa Tâm Lý học hoặc trường Sư Phạm. NCS thì được/bị yêu cầu chọn một chuyên ngành hẹp chính và ba chuyên ngành hẹp phụ khác. Vì thế thời gian đầu bắt đầu làm nghiên cứu sinh họ phải học thêm các môn ở mảng nghiên cứu khác thay vì chỉ tập trung vào mỗi mảng nghiên cứu của mình. Cách làm này vừa là cơ hội cũng đồng thời là áp lực cho NCS. Cơ hội là họ không chỉ biết mỗi lĩnh vực nghiên cứu của mình mà còn tiếp cận với nhiều góc nhìn từ những mảng khác. Áp lực là khi họ phải vượt qua bài thi tổng hợp thì mới được tiếp tục tập trung vào luận án và viết luận án tiến sĩ.

Như vậy, SLS có những điểm chung và cũng có những điểm hơi khác một chút. TESOL chỉ tập trung vào dạy TIẾNG ANH, và thiên hướng thực hành hơn. SLS có một chuyên ngành hẹp là Language Education (LE) nhưng không chỉ tập trung vào Tiếng Anh, mà còn bao gồm cả những ngôn ngữ khác (tiếng Trung, Tiếng Ả-rập…) tuỳ theo lựa chọn của học viên. Applied linguistics (AL) thì có vẻ bao quát nhiều mảng hơn (ngoài dạy học ngoại ngữ thì còn có thể là ngôn ngữ luật, ngôn ngữ pháp y, xã hội học ngôn ngữ…). AL là lĩnh vực nghiên cứu tất cả những vấn đề thực tiễn mà có liên quan tới ngôn ngữ hoặc ngôn ngữ là trung gian, có thể bao gồm cả ngôn ngữ thứ nhất, thứ hai…Tuy nhiên, nhiều người cho rằng AL là ứng dụng của ngôn ngữ học (linguistis- applied) và cũng chưa có sự đồng thuận để đưa ra định nghĩa cho AL (nó là lĩnh vực bao gồm những gì, phạm vi đối tượng NC ra sao…).  SLS thay cho AL và tập trung vào “các vấn đề thực tiễn mà ngôn ngữ 2 (hoặc 3,4…) là trung tâm”. Nhiều người ngoài chuyên ngành với hay so sánh “second language” với “foreign language”. Tuy nhiên, đó là so sánh về “ngữ cảnh/context” còn với tư cách là một “ngành học/academic discipline”, SLS nghiên cứu nhiều ngữ cảnh khác nhau, bao gồm cả heritage language (vd. con em Việt Kiều thế hệ 1.5 trở lên học tiếng Việt ở Mỹ chẳng hạn) và nhiều ngôn ngữ khác nhau (ngôn ngữ thứ 2,3,4 như ở châu Âu đa số nói nhiều hơn 2 ngoại ngữ; và SLS cũng nghiên cứu cả các ngôn ngữ khác như tiếng Trung, tiếng Đức, tiếng Việt…).

Sự phân biệt rất tương đối và thường liên quan lẫn nhau (overlapping) và nhiều người cũng tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, mình chia sẻ góc nhìn của một người trong cuộc và cũng là góc nhìn có sự tìm hiểu, nghiên cứu trước đây (informed perspective).

Nhiều bạn hay hỏi mình về ngành học này nên mình viết bài này để tiện chia sẻ, đỡ phải viết email lặp lại nhiều lần.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s